Truy cập nội dung luôn

Tổng hợp các vấn đề tại Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương

16/03/2021

Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ. Tại buổi họp báo, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải đã cung cấp các thông tin kết quả về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2021 (tài liệu đầy đủ đã được cung cấp đến các phóng viên báo chí).

Về đánh giá tình hình 2 tháng đầu năm 2021

- Tình hình kinh tế, thương mại toàn cầu nói chung được dự báo tích cực hơn trước đây, chủ yếu do tác động tích cực của việc triển khai vắc-xin Covid-19 ở nhiều nước:

Theo đánh giá của các chuyên gia, triển vọng kinh tế thế giới 2021 sẽ tích cực hơn so với năm 2020 khi các quốc gia triển khai tiêm đại trà vắc-xin ngừa Covid-19. WB và IMF (1/2021) dự báo kinh tế toàn cầu được sẽ tăng trưởng trở lại ở mức 4-5% trong kịch bản tích cực. Trong kịch bản bất lợi, nếu tình trạng lây lan của đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp hoặc các chiến dịch tiêm chủng vắc-xin bị đình trệ, tăng trưởng toàn cầu sẽ chỉ ở mức 1,6%; thương mại toàn cầu sẽ khởi sắc hơn so với năm 2020, dự báo đạt mức tăng tưởng 7,2-8%.

- So với diễn biến chung của thế giới thì kinh tế, thương mại Việt Nam vẫn duy trì được đà tích cực hơn:

+ Trong khi Chỉ số quản trị mua hàng (PMI) của ASEAN trong tháng 2 đã suy giảm nhẹ (đạt 49,7 điểm trong tháng 2, giảm so với mức 51,4 trong tháng 1). Cụ thể ở từng quốc gia: Myanmar có mức suy giảm mạnh nhất - Chỉ số PMI toàn phần đạt 27,7 là mức thấp kỷ lục khi tình trạng bất ổn chính trị khiến các nhà máy phải đóng cửa. Thái lan và Malaysia giảm tương ứng là 47,2 và 47,7... thì Việt Nam ghi nhận sự cải thiện nhanh nhất với PMI đã tăng từ 51,3 của tháng 1 lên 51,6 trong tháng 2/2021.

+ Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2021 ước tính giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước do số ngày làm việc của tháng 2/2021 ít hơn 8 ngày so với tháng 2/2020[1] và ảnh hưởng của dịch Covid-19 tại một số địa phương. Tuy nhiên, tính chung 2 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 6,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng cao 10,4% (cùng kỳ năm trước tăng 7,1%); Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,3% (cùng kỳ năm trước tăng 7%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,8% (cùng kỳ năm trước tăng 4,6%); riêng ngành khai khoáng giảm 11% (cùng kỳ năm trước giảm 2,7%). Giảm chủ yếu ở nhóm khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên (giảm 15,6%); khai thác than non và than cứng (giảm 8,6%)

Trong 2 tháng đầu năm 2021, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đạt 1,51 triệu tấn/1,34 triệu tấn (KH), đạt 112,6% so với kế hoạch (bằng khoảng 90% so với cùng kỳ năm 2020). Như vậy sản lượng khai thác trong 2 tháng đầu năm 2021 vượt so với kế hoạch đề ra nhưng có thấp so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng giảm do các mỏ dầu khí ở Việt Nam hầu hết được phát hiện từ lâu, đã được khai thác hơn 20 năm, đang ở giai đoạn cuối của đời mỏ. Hơn nữa trong 5 năm gần đây do giá dầu thô xuống thấp nên đã ảnh hưởng đến công tác đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam của các nhà thầu dầu khí và cũng như không có các phát hiện mỏ dầu khí có trữ lượng lớn mới nào để có đưa vào khai thác. Do vậy, việc suy giảm sản lượng khai thác dầu thô đã được dự báo từ trước.

Sản lượng khai thác than giảm nguyên nhân do lượng tồn kho than hiện nay đang ở mức khoảng 10,6 triệu tấn thương phẩm; nhu cầu tiêu thụ than thấp, vì vậy, 2 tháng đầu năm ngành than đang khai thác cầm chừng.

+ Xuất khẩu của Việt Nam 2 tháng đầu năm 2021 vẫn duy trì mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 1,64 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,8 tỷ USD).

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 48,74 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 9,2%). Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến và nhóm nông - lâm - thủy sản vẫn duy trì tốc độ tăng tốt: Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 42,64 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ 2020, chiếm 87,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm thủy sản ước đạt 3,66 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản ước đạt 45,6 triệu USD, giảm 45,6%.

Các thị trường xuất khẩu chủ lực cũng giữ đà tăng tích cực: 2 tháng đầu năm xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 13,83 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 8 tỷ USD, tăng 46,1%. Thị trường EU đạt 6,1 tỷ USD, tăng 17,6%. Thị trường ASEAN đạt 4,1 tỷ USD, tăng 4%. Hàn Quốc đạt 3,2 tỷ USD, tăng 7,1%. Nhật Bản đạt gần 3 tỷ USD, giảm 4,9%.

Đặc biệt, ngay sau khi Hiệp định UKVFTA có hiệu lực, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam - Anh trong 2 tháng đầu năm 2021 đã tăng hơn 20 % so với cùng kỳ năm 2020, đạt 1,02 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Anh đã tăng 23,6% so với cùng kỳ, đạt 927,7 triệu USD. Đây là mức tăng ấn tượng khi Covid-19 vẫn đang gây tác động lớn đến hoạt động thương mại, đồng thời cho thấy Hiệp định Thương mại tự do Việt - Anh vừa có hiệu  lực rất hứa hẹn, giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Trong đó, ngành hàng được hưởng lợi lớn từ hiệp định này là thủy hải sản, gạo, dệt may, da giày, gỗ, rau quả…

+ Về thị trường trong nước: Kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài 7 ngày và dịch Covid-19 diễn ra tại một số địa phương trong tháng 02/2021 làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng giảm so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 2 giảm 5,4% so với tháng 1/2020 nhưng tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,52% (cùng kỳ năm 2020 tăng 5,4%).

Để bảo đảm mục tiêu kép vừa quyết liệt phòng, chống dịch bệnh vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19 (số 28/TB-VPCP ngày 17 tháng 02 năm 2021); Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 19 tháng 2 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bộ Công Thương đã và đang tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao để tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là hoạt động lưu thông, tiêu thụ nông sản (có sản lượng lớn, đã vào vụ thu hoạch) cho các địa phương vùng có dịch (đặc biệt là tỉnh Hải Dương) và các tỉnh giáp ranh.

Đồng thời, chỉ đạo các địa phương luôn chú trọng đến nguồn cung hàng hóa cơ bản, thiết yếu và hàng hóa phòng, chống dịch bệnh Covid-19 như khẩu trang, nước sát khuẩn để phục vụ thị trường địa phương. Theo báo cáo của các địa phương, thị trường cơ bản không có hiện tượng thiếu hàng sốt giá, nguồn cung hàng hóa luôn được bảo đảm, kể cả tại những khu vực cách ly do dịch bệnh Covid-19.

Giải pháp trong tháng 3 và những tháng tiếp theo

1. Quán triệt và kiên định thực hiện “mục tiêu kép”, tuyệt đối không chủ quan với dịch bệnh, chủ động theo dõi, bám sát tình hình, chuẩn bị các kịch bản, tình huống, giải pháp để ứng phó hiệu quả với diễn biến dịch bệnh;

2. Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả các mặt hàng thiết yếu để có biện pháp điều tiết kịp thời, đảm bảo phân phối hàng hóa hợp lý giữa các vùng miền, ổn định cung cầu - giá cả và lưu thông hàng hóa trên địa bàn cả nước.

Chỉ đạo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu tại địa phương; phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, thương mại, tiểu thương… tổ chức tốt việc đưa hàng hóa, dịch vụ đến các khu dân cư, khu công nghiệp, các địa bàn nông thôn, miền núi… tạo thuận lợi và đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Đẩy mạnh các hình thức, phương thức kinh doanh khuyến khích tiêu dùng như kinh tế ban đêm, các hội chợ, triển lãm sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Tích cực, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế ban hành ngay quy trình về thu mua, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nông sản của vùng đang có dịch.

3. Đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng góp phần bảo vệ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước.

4. Tập trung chỉ đạo thúc đẩy sản xuất công nghiệp; khẩn trương đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án năng lượng, công nghiệp có quy mô lớn; bảo đảm cung ứng đủ điện cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả nước. Tập trung rà soát kỹ và có giải pháp phù hợp, thúc đẩy mạnh mẽ, tạo thuận lợi cho tất cả các khâu trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh, từ nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào, đến sản xuất, chế biến và trung gian phân phối, thị trường, tiêu thụ sản phẩm…

5. Tăng cường phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ quan, địa phương liên quan có giải pháp cụ thể, hiệu quả hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc lưu thông, xuất nhập khẩu, tiêu thụ hàng hóa, nhất là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nông sản tại các địa phương có dịch Covid-19, không để ách tắc trong khâu giao nhận, vận tải làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.

6. Tổ chức khai thác, tận dụng cơ hội từ các FTA để tìm giải pháp phát triển thị trường và tháo gỡ rào cản để thâm nhập các thị trường mới. Tiếp tục theo dõi sát sao diễn biến của đại dịch Covid-19 trên thế giới để có các biện pháp ứng phó kịp thời. Ưu tiên triển khai các hoạt động xúc tiến xuất khẩu và các thị trường xuất khẩu sớm khôi phục sau đại địch; tập trung theo dõi sát tình hình từng thị trường để rà soát, xác định các chủng loại hàng hóa mà các nước đang có nhu cầu nhập khẩu để khai thác, thúc đẩy xuất khẩu.

7. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, đặc biệt là công tác cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng rà soát thủ tục, quy trình cấp phép, thực hiện tối đa việc cấp phép trực tuyến đảm bảo đơn giản, công khai, minh bạch; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện kết nối liên thông các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.

Trong khuôn khổ họp báo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương và đại diện các Đơn vị thuộc Bộ đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí. Nội dung cuộc họp báo xoay quanh các vấn đề chính, bao gồm: vấn đề về xăng dầu; vấn đề xuất nhập khẩu, tác động của Covid-19 đến sản xuất; vấn đề điện mặt trời mái nhà, vấn đề sửa đổi giá bán lẻ điện...

- Nhóm câu hỏi về vấn đề xăng dầu (Phóng viên Huy Hoàng – Bản tin tài chính VTV24 – Đài Truyền hình Việt Nam; Phóng viên Ngô Cường - Báo Lao động; Phóng viên Ngọc An – Báo Tuổi trẻ)

1. Liên quan đến vụ việc xăng dầu lậu, xăng dầu giả có quy mô lớn, với hàng trăm triệu lít gần đây. Bộ Công Thương có luận định gì về vấn đề này và trách nhiệm của Bộ Công Thương ở đâu trong quản lý hoạt động trên thị trường để xảy ra tình trạng nêu trên?

2. Qua kết quả kiểm tra, dự kiến có khoảng 4 -5 doanh nghiệp sẽ bị rút giấy phép, chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân. Cụ thể đó là những doanh nghiệp nào, từ vụ việc này? Thời gian qua, Bộ Công an và các đơn vị chức năng triệt phá vụ án buôn lậu, pha chế gần 2,7 triệu lít xăng giả, mua bán trái phép hóa đơn ở Đồng Nai với quy mô lớn nhất từ trước đến nay, Bộ Công Thương có những kiến nghị như nào để tăng hiệu quả lý xăng dầu?

3. Liên quan đến câu chuyện xăng dầu, thưa Thứ trưởng, trách nhiệm của Bộ Công Thương trong việc để tình trạng xăng dầu lậu, giả, kém chất lượng với quy mô lớn. Vừa qua, có tình trạng doanh nghiệp đầu mối yêu cầu giao hạn ngạch tổng lượng tối thiểu của doanh nghiệp, theo tìm hiểu thấy rằng, đến gần một nửa doanh nghiệp đầu mối không đáp ứng đủ lượng phân giao nhưng vẫn được tiếp tục phân giao. Với tình trạng doanh nghiệp mở ra hoạt động nhưng kinh doanh èo uột, ít, Bộ Công Thương có lý giải gì? Liệu đây có phải là kẽ hở cho hoạt động buôn lậu, xăng dầu giả hay không? Giải pháp trong thời gian tới ra sao?

Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước Trần Duy Đông - trả lời:

Theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu, Bộ Công Thương có 3 trách nhiệm chính. Đó là chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá; giám sát việc thực hiện đối với các thương nhân kinh doanh xăng dầu; đảm bảo nguồn cung cho sản xuất và người tiêu dùng; và phát triển hệ thống phân phối, làm thế nào để phục vụ tốt hơn cho sản xuất và tiêu dùng.

Hoạt động kinh doanh xăng dầu chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Đầu tư, Luật Chất lượng sản phẩm, Luật Giá, Luật Hải quan, Luật Cạnh tranh và Bảo vệ Người tiêu dùng, Nghị định 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu… Nhiều cơ quan có chức năng quản lý mặt hàng xăng dầu như Bộ Công an, Hải quan, Bộ Tài chính, Biên phòng, Cảnh sát biển, Bộ Công Thương.

Theo phân công, Bộ Khoa học và Công nghệ được phân công, chịu trách nhiều về chất lượng, số lượng, pha chế. Các địa phương có trách nhiệm giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu của các thương nhân kinh doanh xăng dầu trên địa bàn và giám sát chất lượng xăng dầu trên địa bàn của mình. Theo Nghị định 83, Bộ Công Thương có 3 trách nhiệm chính. Thứ nhất là chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính giám sát việc thực hiện, điều hành giá đối với các thương nhân kinh doanh xăng dầu. Thứ hai là đảm bảo nguồn cung cho sản xuất và người tiêu dùng. Thứ ba phát triển hệ thống phân phối, làm thế nào để phục vụ tốt cho sản xuất và tiêu dùng.

Theo ông Trần Duy Đông, trong thời gian qua, việc kinh doanh xăng dầu theo Nghị định 83 của các thương nhân kinh doanh xăng dầu thuộc lĩnh vực quản lý của ngành Công Thương về cơ bản đã được thực thi, đáp ứng tốt những yêu cầu của Nghị định. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, giám sát, vẫn có một số thương nhân kinh doanh xăng dầu có dấu hiệu, biểu hiện vi phạm theo Nghị định 83, như việc duy trì điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kinh doanh xăng dầu, hay có những quy định cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của bộ, ngành khác như vấn đề chất lượng, pha chế…

Đối với Bộ Công Thương, Bộ luôn yêu cầu các thương nhân kinh doanh xăng dầu đảm bảo thực thi pháp luật đầy đủ trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Bên cạnh đó, thường xuyên có văn bản yêu cầu thương nhân kinh doanh xăng dầu phải đảm bảo trách nhiệm của mình và thực hiện nghiêm túc các quy định về kinh doanh xăng dầu, trong đó duy trì điều kiện đầu tư kinh doanh, phát triển hệ thống để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất.

Bộ cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan như lực lượng công an, hải quan, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, cảnh sát biển để phối hợp liên ngành thật tốt trong công tác phòng chống gian lận thương mại, cũng như giám sát hoạt động kinh doanh của các thương nhân kinh doanh xăng dầu.

Thời gian qua, Bộ phối hợp với cơ quan công an, quản lý thị trường đã thực hiện một số hoạt động liên quan đến kiểm tra chuyên ngành, như thường xuyên có đoàn kiểm tra giám sát, quan tâm đến hậu kiểm. Đoàn gần nhất được triển khai vào cuối năm 2020. Đến nay về cơ bản, sơ bộ đã kết thúc đợt một, đã có những kết quả ban đầu. Chúng tôi sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền, cũng như lãnh đạo Bộ để xử lý nghiêm thương nhân kinh doanh xăng dầu vi phạm theo Nghị định 83 cũng như theo khuyến nghị của cơ quan chuyên ngành.

Liên quan đến hoàn thiện văn bản pháp luật, cơ sở pháp lý trong thời gian tới, ông Trần Duy Đông cho biết, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Nghị định 83 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, Ban soạn thảo văn bản gồm nhiều thành viên các bộ, ngành, đã bàn thảo rất kỹ, nhiều lần. Về cơ bản, sau 5 lần chỉnh sửa, đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Hy vọng, đây là bước cuối cùng để Nghị định 83 sửa đổi về kinh doanh xăng dầu này được thông qua. Hy vọng Nghị định sửa đổi sẽ xử lý được những vướng mắc trong kinh doanh xăng dầu, trong đó có vấn đề liên quan đến quy định phát triển hệ thống phân phối minh bạch, rõ ràng hơn, tránh tình trạng phát triển không đi vào chất lượng, thực chất. Hay vấn đề hạn ngạch mức nhập khẩu tối thiểu cũng có những đề xuất hợp lý hơn. Hoặc trong quá trình sửa đổi đặc biệt quan tâm đến chất lượng, an toàn.

Thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục tăng cường phối hợp, tăng thanh tra, kiểm tra các lĩnh vực quản lý của ngành Công Thương. Trong đó lực lượng quản lý thị trường (QLTT) luôn coi mặt hàng xăng dầu là một trong những mặt hàng có kế hoạch kiểm tra dày đặc và thường xuyên.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải – trả lời:

Trước đây 70-75% lượng xăng dầu thành phẩm sử dụng trong nước phải nhập khẩu. Khi các doanh nghiệp được cấp phép trở thành doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, hàng năm phải đăng ký với Bộ Công Thương kế hoạch nhập khẩu, hạn mức tối thiểu là bao nhiêu. Nếu không có hạn mức thì có nguy cơ thiếu xăng dầu thành phẩm để cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nước, đảm bảo an ninh năng lượng. Doanh nghiệp phân phối, đại lý ở dưới có quyền không chỉ lấy nguồn từ doanh nghiệp đầu mối mà còn có thể lấy nguồn xăng dầu từ doanh nghiệp khác. Vì vậy, hạn mức sử dụng xăng dầu của một doanh nghiệp, của một đầu mối do các doanh nghiệp đầu mối cung cấp thông tin thường ít hơn so với tổng số trên thực tế các doanh nghiệp phân phối, đại lý tiêu thụ trực tiếp trên thị trường.

Hiện nay, nguồn cung cho xăng dầu thay đổi, 70-75% đã lấy ở trong nước từ hai nhà máy, đó là Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn và Lọc dầu Dung Quất… cho nên nhập khẩu chỉ còn 25-30%. Vì thế, trong Nghị định sửa đổi Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu, đề xuất của doanh nghiệp và một số các cơ quan quản lý là nên bỏ hạn mức này, bởi doanh nghiệp được chủ động trong việc kinh doanh.

Đầu năm doanh nghiệp phải đăng ký hạn mức với Bộ Công Thương, nhưng đến gần cuối năm nếu có điều chỉnh, không đáp ứng được hạn mức thì báo cáo lên Bộ, Bộ đồng ý  và cấp lại hạn mức tiêu thụ xăng dầu. Như vậy, Bộ vẫn có thể kiểm soát chặt chẽ trong vấn đề này. Tuy nhiên trong bối cảnh khó khăn do dịch bệnh, do nhu cầu giảm, thì cần phải có sự thông cảm chia sẻ với doanh nghiệp.

- Nhóm Phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam (Huy Hoàng, Đức Chung – Bản tin tài chính VTV24)

1. Liên quan đến xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất với Bộ Công Thương có thể đàm phán hoặc thương lượng với nước mà Việt Nam nhập khẩu ngũ cốc rất lớn như Brazil, Archentina, để nhận giá ưu đãi. Còn trong thời gian tới, Bộ có tính đến việc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với các nước trên để có thể hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi hơn. Cùng với đó, xu hướng giá nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi có xu hướng giảm. Theo Bộ Công Thương, các doanh nghiệp nhập khẩu cần lưu ý những điều gì và Bộ có những chính sách hỗ trợ gì cho doanh nghiệp hay không?

 2. Theo đánh giá của VCCI, doanh nghiệp đang chịu nhiều tác động bởi dịch bệnh Covid-19, Bộ Công Thương có kịch bản gì đối với tình hình mới, giải pháp nào để duy trì sản xuất ổn định và đảm bảo mục tiêu xuất khẩu. Với quyết định đã và đang dự kiến sẽ phát huy vai trò như thế nào, liệu đây có được coi là cứu cánh cho các doanh nghiệp hay không?

3. Mới đây, Thủ tướng có giao Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát tổng thể phát triển điện mặt trời mặt đất và mái nhà. Theo Dự thảo mà Bộ Công Thương đang xây dựng, điện mặt trời mái nhà, giá mua điện có thể giảm khoảng 30% so với mức giá từ năm 2020 đổ về trước. Bộ Công Thương có cơ sở như thế nào để đưa ra mức giá theo dự thảo xây dựng lần này.

4. Liên quan đến điện mặt trời, mặt đất, Thủ tướng có yêu cầu rà soát lại để tránh việc quá tải trong đường dây, cũng như điện lưới, cũng phải hài hòa lợi ích của nhà đầu tư, để đảm bảo giải tỏa các dự án tái đầu tư, Bộ Công Thương có giải pháp thế nào và rà soát cũng như thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng ra sao?

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải - trả lời:

Thị trường khu vực Mỹ La-tinh là thị trường tiềm năng với các nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, nhất là nông sản. 5 năm trở lại đây, Việt Nam đã nhập khẩu nhiều thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu thực vật phục vụ chế biến thức ăn gia súc.

Năm 2020, chúng ta đã nhập khẩu từ 2 nước chính là Brazil và Acgentina như ngô ta nhập khẩu từ Brazil 584 triệu USD; thức ăn gia súc 391 triệu USD, tăng trưởng 83%. Còn nhập khẩu 2 mặt hàng này từ Argentina là 3 tỷ USD. Điều này cho thấy khả năng cung cấp của thị trường này tương đối lớn.

Thời gian qua, giá các nguyên liệu thức ăn gia súc và nguyên liệu thức ăn gia súc giảm, tạo thuận lợi cho ngành chăn nuôi. Nhưng các nguyên liệu nói chung, kể cả nguyên liệu nông sản có tính chất biến động trên thị trường rất  mạnh. Sự biến thiên các mặt hàng là điều khó lường nên việc dự đoán chính xác về việc giá cả nguyên liệu, thức ăn gia súc sẽ giảm bao nhiêu, trong thời gian bao lâu là rất khó khăn. Trên tinh thần chung, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho rằng, doanh nghiệp cần tính toán, cân nhắc kỹ về các yếu tố tác động đến thị trường nguyên liệu, khả năng huy động vốn và khả năng lưu trữ để quyết định việc có nên gia tăng nhập khẩu nguyên liệu trong thời điểm này hay không.

Với khối Mercosur - bao gồm Brazil, Argentina, Uruguay, Paraguay: Đây là một tổ chức thương mại tự do tương tự như ASEAN, hiện có 5 nước thành viên chính thức, 5 nước đang trong quá trình đàm phán. Với một thị trường 365 triệu dân, tổng GDP vào khoảng 3.000 tỷ USD, đây là một thị trường tiềm năng để chúng ta đàm phán FTA. Bộ Công Thương đã tiến hành lập báo cáo khả thi đánh giá nghiên cứu về lợi ích tác động khi đàm phán FTA với các nước này, nhưng cho đến nay phía bạn vẫn chưa sẵn sàng. Để ký hiệp định cần phải có sự đồng thuận của cả hai bên tham gia. Việt Nam đã có bước đi nhưng phía bạn chưa sẵn sàng nên ta cần đợi thời điểm thích hợp hơn để thực hiện.

Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Nguyễn Thúy Hiền - trả lời:

Giải pháp ổn định kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19: Như chúng ta đã biết, năm ngoái, khi dịch Covid-19 xảy ra, ngày 17/2/2020, với tinh thần khẩn trương, tích cực, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký quyết định ban hành Chương trình hành động của Ngành Công Thương thực hiện các giải pháp vừa phòng chống dịch vừa đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh. Tại quyết định này đã giao nhiệm vụ cụ thể đến từng đơn vị thuộc bộ và gắn trách nhiệm với người đứng đầu đơn vị trong việc thực hiện các nhiệm vụ. Với việc thực hiện quyết định này, năm 2020, dù gặp nhiều khó khăn do dịch Covid 19 nhưng ngành Công Thương đã đạt kết quả khả quan, nhiều chỉ tiêu của ngành đã được thực hiện tốt, đặc biệt kim ngạch xuất khẩu tăng cao (tăng 7%), hoàn thành mục tiêu kế hoạch, đây là kết quả ấn tượng khi ta thực hiện tốt Chương trình hành động này.

Từ đầu năm 2021, khi dịch Covid-19 quay trở lại, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã có văn bản chỉ đạo toàn ngành tiếp tục bám sát nhiệm vụ tại Chương trình hành động đã ban hành từ năm 2020 và bổ sung các nhiệm vụ mới, phù hợp với tình hình mới, trong đó, tập trung một số nhiệm vụ cốt lõi như sau:

Tập trung thực hiện “mục tiêu kép”, bám sát kịch bản phát triển của Ngành để có giải pháp ứng phó phù hợp trong bối cảnh dịch bệnh vẫn đang xảy ra.

Theo dõi sát sao tình hình sản xuất công nghiệp, cung cầu hàng hoá thiết yếu để có biện pháp chỉ đạo điều tiết sản xuất và kinh doanh phù hợp tình hình mới.

Tổ chức tốt hệ thống phân phối vừa đáp ứng nhu cầu người dân, tiêu thụ nông sản cho bà con nông dân và thúc đẩy xuất khẩu, đẩy mạnh triển khai các phương thức kinh doanh mới nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá trên cả nước.

Hướng dẫn doanh nghiệp khai thác tốt các thị trường có FTA, đặc biệt ưu tiên xúc tiến thương mại vào các thị trường xuất khẩu đã có sự khôi phục sau dịch bằng các hình thức xúc tiến thương mại mới.

Phối hợp các cơ quan chức năng tạo điều điều kiện giúp các doanh nghiệp lưu thông hàng hoá tốt nhất, giúp bà con nông dân tiêu thụ nông sản, thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định sản xuất kinh doanh…

Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo Hoàng Tiến Dũng - trả lời:

Điện mặt trời mái nhà (MTMN) là nguồn điện sạch, tái tạo có tính chất phân tán, quy mô nhỏ, được tiêu thụ tại chỗ, giảm tổn thất của quá trình truyền tải, phân phối, tận dụng hạ tầng lưới điện hiện có của ngành điện.

ĐMT có thời gian phát chủ yếu vào ban ngày, trong giờ cao điểm của hệ thống điện giúp giảm đỉnh phụ tải, tận dụng được diện tích mặt bằng mái nhà tại các khu dân cư, doanh nghiệp vốn đã có sẵn cơ sở hạ tầng lưới điện đầy đủ, thuận tiện trong việc đấu nối... Do đó cần khuyến khích các thành phần kinh tế như hộ gia đình, doanh nghiệp tham gia đầu tư để cấp điện tự dùng và phần dư bán lại cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Các mục tiêu này đã được bám sát trong quá trình xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích ĐMT tại Việt Nam (Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam) và Thông tư hướng dẫn của Bộ Công Thương.

Theo báo cáo từ EVN, tính đến hết ngày 31/12/2020, cả nước có 105.996 hệ thống ĐMT mái nhà đi vào vận hành, tổng công suất lắp đặt 9.731 MWp (khoảng 7.784 MWac), sản lượng tích lũy ước đạt khoảng 1.337.093 MWh, giảm phát thải khoảng 1.220.766 tấn khí CO2, góp phần bổ sung nguồn điện sạch, tại chỗ, góp phần giải quyết nguy cơ thiếu điện năm 2020, đóng góp quý cho hệ thống điện quốc gia và phát triển kinh tế xã hội. Nhưng giá điện theo Quyết định 13 có hiệu lực đến hết năm 2020 nên cần phải ban hành cơ chế chính sách mới, trong đó điện mặt trời mặt nước và mặt đất áp dụng cơ chế đấu thầu còn ĐMTMN áp dụng cơ chế giá cố định.

Với tiến bộ vượt bậc về công nghệ sản xuất thiết bị điện mặt trời nên chi phí sản xuất ĐMT giảm nhanh, ví dụ ĐMT mặt đất trước đây có giá mua điện là 9,35 UScent/kWh được nhiều nhà đầu tư quan tâm, sau này giảm xuống còn 7,09 UScent/kWh vẫn được nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư . Thực tế cho thấy, tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho ĐMTMN có giá giảm nhanh, hiệu suất cao hơn, là cơ sở để tính toán để giảm giá mua ĐMT mà vẫn đảm bảo lợi ích nhà đầu tư và người mua điện trong tiết kiệm chi phí đầu tư.

Vừa qua, Thủ tướng có yêu cầu Bộ Công Thương rà soát phát triển ĐMT, tránh phát triển ồ ạt làm quá tải đường dây.

Việc quá tải diễn ra vào năm 2019 và đầu năm 2020 tại một số địa phương như Ninh Thuận vì tốc độ phát triển dự án rất nhanh. Với dự án ĐMT, tốc độ xây dựng chỉ từ 4-6 tháng nhưng với đường dây truyền tải, thời gian xây dựng phải mất từ 2 năm trở lên, nên sự tương thích về đầu tư và phối hợp chưa nhịp nhàng. Thời gian qua, EVN đã xây dựng nhiều công trình, dự án truyền tải; nhiều dự án của tư nhân cũng được triển khai nên cơ bản đến nay, quá tải do năng lượng mặt trời và năng lượng tái tạo theo đó đã được giải quyết.

Theo yêu cầu của Thủ tướng, Bộ Công Thương đã có công văn gửi EVN và địa phương báo cáo tình hình thực hiện Quyết định 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển ĐMT tại Việt Nam và ngày 5/3 đã lập đoàn kiểm tra, dự kiến kiểm tra 10 tỉnh, thời gian thực hiện 40 ngày, khi có kết quả sẽ thông tin. Kết quả sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ và công luận được biết.

Vừa rồi đã xảy ra tình trạng dư thừa công suất, gây ra khó khăn cho vận hành hệ thống điện, điều đó có nguyên nhân từ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 làm giảm nhu cầu điện. Năm 2020 đặt ra kế hoạch sản xuất điện là 260 tỷ kWh nhưng sản lượng đã phải giảm thấp hơn kế hoạch gần 16 tỷ kWh nên nguồn điện phải giảm phát. Đầu năm 2021 rơi vào Tết Nguyên đán, sản lượng điện cũng được yêu cầu thấp hơn, nên tất cả các nhà máy không chỉ mặt trời mà các nguồn truyền thống đều phải cắt giảm công suất.

- Phóng viên Ngọc An - Báo Tuổi trẻ:

1. Liên quan đến sửa biểu giá bán lẻ giá điện, rõ ràng biểu giá này đã đưa ra trong hơn năm qua, tuy nhiên, đến thời điểm này, chưa có phương án sửa đổi giá bán lẻ điện. Bộ Công Thương khi nào trình biểu giá này, lý do tại sao trong suốt thời gian dài như vậy, chúng ta không đưa ra sớm để người dân tránh những bức xúc vào mùa nóng.

2. Cuối năm ngoái, Bộ đã công bố giá thành sản xuất kinh doanh điện, giá ăm 2019 tăng 7%, năm nay có tính đến phương án tăng giá bán lẻ điện hay không? Hiện Bộ Công Thương trình Quy hoạch điện 8, trong quy hoạch này có nguồn điện tái tạo rất lớn, liệu rằng có giải quyết được bài toán giá điện cao như thế không, bởi trong 2 năm vừa rồi, giá điện gần như có gì thay đổi.

Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực Nguyễn Anh Tuấn - trả lời:

Cơ chế bán lẻ điện bình quân thực hiện qua Quyết định 24 ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, giá bán lẻ điện sẽ được xây dựng thông qua các yếu tố đầu vào; các chi phí theo chuỗi, dây chuyền sản xuất cung ứng điện từ truyền tải, phân phối, bán lẻ điện đến các hộ sản xuất kinh doanh điện. Hiện Bộ Công Thương đã và đang chỉ đạo việc điều hành giá điện theo đúng Quyết định 24 của Thủ tướng Chính phủ.

Hiện Tổng sơ đồ 8 đang được Bộ Công Thương trình Chính phủ xem xét và dự kiến thông qua trong thời gian tới. Trong đó đã có nói đến quy hoạch phát triển hệ thống điện thời gian tới cũng như giải pháp phát triển lưới điện truyền tải, hệ thống phân phối. Trong đề án cũng đã đưa ra chi phí cận biên trong nguồn, lưới điện truyền tải và phân phối. Song song với việc sử dụng tổng sơ đồ này thì Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo các đơn vị triển khai xây dựng khung giá bán lẻ bình quân giai đoạn 2021 - 2026. Khung giá này có tính sát đến khối lượng đầu tư trong khâu phát điện, truyền tải và phân phối.

Về điều hành giá điện, thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ kiên trì thực hiện điều hành giá điện theo Quyết định 24, cũng như định hướng điều hành giá điện theo cơ chế thị trường định hướng tại Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị.

Với vấn đề xem xét cải tiến cơ cấu bán lẻ điện theo Quyết định 28: Thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, năm 2020, Bộ Công Thương đã nghiên cứu, xem xét nghiên cứu cải tiến biểu giá bán lẻ điện theo các đối tượng khách hàng sử dụng điện. Đề án đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của bộ ngành địa phương, khách hàng sử dụng điện. Trên cơ sở đánh giá góp ý của các đơn vị, Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở báo cáo của Bộ Công Thương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi Quyết định 28 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét. Trong đó Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu xem xét quyết định khi dịch Covid-19 được kiểm soát và nền kinh tế phục hồi. Hiện Bộ Công Thương đang tiếp tục thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu, cải tiến cơ cấu bán lẻ điện để phục vụ nhu cầu khách hàng sinh hoạt sản xuất kinh doanh, hành chính sự nghiệp để đảm bảo đúng thực tế sử dụng của khách hàng. Sau khi hoàn chỉnh các phương án, Bộ Công Thương sẽ một lần nữa lấy ý kiến các bộ ngành trước khi trình Chính phủ xem xét quyết định.

- Phóng viên Ngô Cường - Báo Lao động:

 Trong dự thảo Quy hoạch Điện 8, giai đoạn 2031- 2045, trung bình mỗi năm cần đầu tư khoảng 12,8 tỷ USD. Tuy nhiên, với gần 1.000 trang bản dự thảo chỉ có 10 trang về huy động nguồn vốn đầu tư để thực hiện được Quy hoạch. Nhiều câu hỏi đặt ra còn đang bỏ ngỏ, cần có câu trả lời rõ ràng từ cơ quan soạn thảo, như nguồn vốn huy động từ đâu? Thành phần kinh tế nào? trong nước, ngoài nước? các chính sách quan trọng như tài khóa xanh, tín dụng xanh được sử dụng ra sao thúc đẩy phát triển nguồn năng lượng tái tạo được sử dụng thế nào?

Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo Hoàng Tiến Dũng - trả lời:

Tổng công suất nguồn điện của Việt Nam hiện nay gần 70000 MW. Với nhu cầu vốn lên đến 150 tỷ USD, Nhu cầu phụ tải trong thời gian tới được dự báo duy trì mức cao 8-9%/năm. Đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện tăng lên khoảng 140.000 MW, gấp đôi so với hiện nay, nên cần nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, mỗi năm cần 12-13 tỷ USD. Đây là thách thức lớn phát triển cho phát triển điện lực.

Vấn đề nguồn vốn là phức tạp nên với từng dự án thì chủ đầu tư phải lập nghiên cứu báo cáo nghiên cứu khả thi, tính toán cụ thể. Trong quy hoạch chỉ đưa ra tổng vốn huy động và giải pháp chính. Trong đó, với huy động vốn, đề xuất giải pháp là tăng khả năng tài chính nội bộ của doanh nghiệp, tăng uy tín năng lực tài chính để vay vốn thuận lợi với chi phí thấp hơn. Với nguồn vốn hàng năm huy động cao như vậy, cần có cơ chế mạnh mẽ hơn để khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân... đầu tư vào cơ sở hạ tầng ngành điện thông qua cơ chế như: Cơ chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư hay Cơ chế xã hội hóa đầu tư xây dựng đường dây truyền tải.

Khi có cơ chế hợp lý, hài hòa lợi ích các bên sẽ có nguồn lực mạnh mẽ. Nhìn vào các dự án nguồn năng lượng tái tạo vừa qua, 16.000 MW ĐMT chủ yếu do doanh nghiệp tư nhân đầu tư với tổng vốn tương đương 10 tỷ USD, chỉ huy động trong hơn 2 năm.

[1] Tết Nguyên đán năm nay tập trung trong tháng 02, Tết Nguyên đán năm 2019 diễn ra vào tháng 01.



Tags:
Tin liên quan
QUỐC TẾ
THÔNG BÁO MỚI
1
2
3
Video
Xem toàn bộ