Truy cập nội dung luôn
Thông tin họp báo Xem cỡ chữ

Tổng hợp các vấn đề chủ yếu trong Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương

17/12/2019

Ngày 12 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ. Tại buổi họp báo, Bộ Công Thương đã cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại11 tháng năm 2019.

Kết quả đạt được của ngành Công Thương11 tháng năm 2019 như sau:

Về sản xuất công nghiệp

11 tháng/2019, sản xuất công nghiệp đạt mức tăng khá,tăng 9,3% so với cùng kỳ, tuy nhiên, thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2018 (11T/2018 tăng 10%).

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, với mức tăng 10,6% (cùng kỳ năm trước tăng 12,1%). Một số ngành trong nhóm công nghiệp chế biến chế tạo có mức tăng cao hơn mức tăng bình quân 10,6% của nhóm công nghiệp chế biến chế tạo là: Sản xuất dệt; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất kim loại; sản xuất đồ uống...

- Nhóm ngành khai khoáng tăng 0,9% (trong khi cùng kỳ năm trước giảm 1,9%). Trong đó, tăng cao ở nhóm khai thác than cứng và than non và khai thác quặng kim loại, bù đắp được sự sụt giảm của khai thác dầu thô và khí đốt (giảm 2,9%). Việc giảm ở nhóm dầu thô và khi đốt là giảm theo kế hoạch đã đề ra của năm 2019. Thực tế, sản lượng khai thác dầu thô và khí 11 tháng đầu năm đều đã vượt so với kế hoạch đề ra cho 11 tháng đầu năm. (Sản lượng khai thác dầu thô 11 tháng đạt 11,96 triệu tấn, bằng 96,73% kế hoạch năm).

+ Nhóm ngành sản xuất và phân phối điện duy trì đà tăng trưởng ổn định, với mức tăng 9,5% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 9,6%). Năm nay, tình hình thủy văn diễn biến phức tạp, ngoại trừ một số hồ thủy điện ở miền Nam và Tây Nguyên có lưu lượng nước tương đương trung bình nhiều năm, nhiều hồ thủy điện lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ đến nay nước vẫn về thấp hơn rất nhiều so với năm 2018 cũng như trung bình nhiều năm. Tuy nhiên, đến thời điểm này, cân đối về điện vẫn được đảm bảo, đáp ứng tốt nhu cầu về điện cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Sản lượng điện sản xuất toàn tháng 11 ước đạt 18,79 tỷ kWh, tăng 7,6% so với cùng kỳ. Luỹ kế 11 tháng ước đạt 209,46 tỷ kWh, tăng 9,5% so cùng kỳ năm trước.

Về xuất nhập khẩu

Trước bối cảnh giảm sút trong tổng cầu của kinh tế thế giới, hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm,(theo WTO, 10T/2019 xuất khẩu của Thái Lan giảm 2,1%, Indonesia giảm 7,86%, Malaysia giảm 4,07%; Singapore giảm 5,67%; Nhật Bản giảm 4,49%; Hàn Quốc giảm 10,37%; Trung Quốc giảm 0,1% so với cùng kỳ), tuy nhiên, XK hàng hóa của Việt Nam trong 11 T/2019 vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng. Tổng KNXK 11 T/2019 tăng 7,8%. Mức tăng trưởng này tuy có phần chậm lại so với cùng kỳ năm 2018 và 2017 (tăng tương ứng 14,6% và 22,1%) nhưng cơ bản đã bám sát chỉ tiêu đặt ra của Quốc hội (xuất khẩu tăng 7%- 8% năm 2019), cho thấy nỗ lực rất lớn của chúng ta trong việc khai thác thị trường, thúc đẩy XK và là xu hướng tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu suy giảm.

- Quy mô XK tiếp tục được mở rộng. Tính đến hết tháng 11 năm 2019, đã có 32 mặt hàng đạt KNXK trên 1 tỷ USD (trong đó có 8 mặt hàng trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng trên 10 tỷ USD).

- Đáng chú ý, khối doanh nghiệp trong nước tiếp tục là điểm sáng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 11T/2019 với mức tăng 18,1%, cao hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng chung cả nước và cao hơn gần 5 lần so với tốc độ tăng trưởng của khối doanh nghiệp FDI (kể cả dầu thô - đạt 3,8%). Qua đó tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng tăng lên, chiếm 30,95% tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 29,16%).

- Tất cả các nhóm thị trường mà ta có ký kết FTA và đang thực thi đều ghi nhận tăng trưởng tốt,cho thấy ta đã chủ động khai thác có hiệu quả các FTA đã ký kết.Ví dụ như: Xuất khẩu sang Nhật Bản 11 T/2019 tăng 7,6%; sang Hàn Quốc tăng 10,1%; sang ASEAN tăng 2,5%; sang Nga tăng 9,1%; sang Niudilan tăng 6,8% so với cùng kỳ... Đặc biệt là KNXK sang các thị trường là thành viên CPTPP đạt mức tăng tốt, thể hiện bước đầu tận dụng hiệu quả các cam kết từ Hiệp định này (xuất khẩu sang Canađa 11 tháng đầu năm đạt 3,5 tỷ USD, tăng 27,2%; xuất khẩu sang Mexico đạt 2,7 tỷ USD, tăng 29,5%).

- Cơ cấu hàng hóa XK tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng XK thô, tăng XK sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Trong khi xuất khẩu nhóm nông sản, thủy sản giảm 5,2% thì nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018, qua đó đóng góp vào mức tăng trưởng xuất khẩu chung. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 84,43% tổng KNXK, cao hơn mức 82,9% của năm 2018 và 81,0% của năm 2017.

- 11T/2019 KNNK tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng cần nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng nhiên liệu, nguyên phụ liệu, bán thành phẩm phục vụ cho sản xuất, chiếm tới 87,96% KNNK. Trong khi đó, tỷ trọng nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 7,16% tổng kim ngạch nhập khẩu.

- Cán cân thương mại hàng hóa trong 11 T/2019 duy trì thặng dư lên tới 9,11 tỷ USD, cao hơn so với cùng kỳ 2018 (năm 2018 xuất siêu 7,58 tỷ USD). Việc kiểm soát tốt cán cân thương mại đã góp phần tăng nguồn cung ngoại tệ và giảm áp lực tăng tỷ giá, ổn định thị trường ngoại hối và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Về phát triển thị trường trong nước

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2019 tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của tháng 11 trong 6 năm trở lại đây.

Tính chung 11 tháng đạt 4.481,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2018 (thấp hơn mức tăng của 11 tháng năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 11tháng của các năm giai đoạn 2015-2017). Thương mại nội địa giữ vững được đà tăng trưởng ổn định với tốc độ tăng tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ xã hội ở mức 2 con số, thị trường sôi động, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm cung - cầu các loại hàng hóa trong những tháng cuối năm 2019.

Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-BCT ngày 21 tháng 10 năm 2019 về thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2019 và dịp Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020. Đối với mặt hàng thịt lợn, Bộ đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá đầy đủ, thực chất mức độ thiếu hụt nguồn cung mặt hàng thịt lợn và có kế hoạch, đề xuất số lượng nhập khẩu thịt lợn cụ thể từ các đối tác thương mại có quan hệ hai chiều với nước ta phục vụ nhu cầu tiêu dùng, bình ổn thị trường dịp cuối năm.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

1. Phóng viên Quang Lộc Báo Công Thương: Sau một thời gian tăng giá mạnh, giá thịt lợn thời gian gần đây đang có xu hướng chững lại. Bộ Công Thương đã triển khai các giải pháp kết nối cung cầu ra sao để ổn định giá mặt hàng này? Những giải pháp sắp tới của Bộ nhằm đảm bảo ổn định cung cầu và giá thịt lợn trong dịp Tết Nguyên đán?

2. Phóng viên Nguyên Long VOV: Chuẩn bị cho đảm bảo hàng hóa Tết, đặc biệt là thịt lợn chúng tôi cũng được biết trước, trong và sau Tết thấy nguy cơ thiếu thịt là rất lớn. Vậy Bộ Công Thương có giải pháp cụ thể như thế nào để đảm bảo nguồn hàng?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Mặt hàng thịt lợn được Bộ Công Thương hết sức quan tâm, ưu tiên đảm bảo cung cầu từ nay đến Tết và kể cả sau Tết nguyên đán. Đề nghị Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương trao đổi, báo cáo về vấn đề này.

Ông Hoàng Anh Tuấn – Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước:

Liên quan nguồn cung thịt lợn, chúng ta phải khẳng định dịch tả lợn châu Phi sau khi đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam, đã xảy ra ra tại 63 tỉnh. Ngay từ đầu, Bộ Công Thương đã nhanh chóng phối hợp các lực lượng quản lý tại các địa phương, UBND các tỉnh, cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) làm việc với các tỉnh biên giới để đưa ra các giải pháp. Đầu tiên là cưỡng chế, sau đó hướng đến khi dịch vào thì chủ động chuẩn bị nguồn cung, nhằm đảm bảo phục vụ người tiêu dùng trong năm 2019.

Sau khi Bộ NN&PTNT báo cáo Thủ tướng Chính phủ từ nay tới cuối năm thiếu 200 nghìn tấn thịt lợn, chúng tôi khẳng định là thiếu thịt lợn. Để đảm bảo nguồn cung, Bộ Công Thương đã thực hiện công tác bình ổn cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm các mặt hàng thiết yếu, trong đó có mặt hàng thịt lợn. Như Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải vừa chia sẻ, đây là 1 trong những vấn đề đặc biệt quan tâm đối với Bộ Công Thương và của các Cục, Vụ trong Bộ Công Thương trong việc đảm bảo nguồn cung từ giờ tới cuối năm, trước, trong và sau Tết.

Vừa qua, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị 12 về việc đảm bảo cung cầu mặt hàng thiết yếu, trong đó có mặt hàng thịt lợn. Thực hiện chỉ thị, các đơn vị của Bộ, đặc biệt các Tập đoàn, Tổng công ty chuẩn bị hàng hóa, đảm bảo sản xuất đủ hàng thiết yếu, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của bà con trước, trong và sau Tết. Đối với mặt hàng thịt lợn, Bộ Công Thương đã có văn bản chỉ đạo, đặc biệt là các Sở Công Thương, trước dịch tả lợn châu Phi cần theo dõi, căn cứ tại địa phương và căn cứ vào các DN, cũng như các DN chế biến để phân tích nhu cầu nội tại, đáp ứng tại địa bàn của tỉnh. Từ đó cân đối, tham mưu UBND tỉnh, hướng đến đảm bảo nguồn cung, kể cả hướng tới nhập khẩu thịt lợn, đảm bảo nhu cầu của người tiêu dùng trong thời gian tới.

Về công tác tuyên truyền, trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương, Vụ Thị trường trong nước trực tiếp trả lời VTV1, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, đồng thời cũng phối hợp với Bộ NN&PTNT đưa thông tin và có chính sách kịp thời để người tiêu dùng, DN ủng hộ việc khi bị dịch tả lợn châu Phi, các cơ quan bộ, ngành hướng đến thực hiện nhập khẩu, trong lúc nguồn cung thiếu. Đặc biệt đối với ngành nông nghiệp, hướng tới vấn đề tái đàn và trách nhiệm của ngành nông nghiệp để những vùng đã hết dịch, hướng đến tái đàn và có thể đảm bảo nguồn cung trong thời gian tới. Có thể khẳng định thịt lợn thiếu, song đảm bảo thực phẩm cho người tiêu dùng, các mặt hàng thức ăn gia cầm, thủy sản, trứng, trâu, bò đã phần nào bù lại những thiếu hụt mặt hàng thịt lợn.

Liên quan đảm bảo hàng hóa nhu cầu thiết yếu cuối năm đặc biệt là mặt hàng thịt lợn, thời gian vừa qua, dưới sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ hướng đến việc nếu thiếu nguồn cung và nhập khẩu mặt hàng thịt lợn, chúng ta cần phải có cam kết về mặt thú y, nhưng với mục tiêu đảm bảo hài hòa lợi ích giữa DN chăn nuôi, người tiêu dùng và các DN chế biến. Vừa qua, Sở Công Thương cũng đã liên hệ Vụ Thị trường trong nước để có hướng dẫn DN trên địa bàn hướng tới nguồn nhập khẩu. Phải khẳng định rằng, Bộ cũng đã chủ động thường xuyên trao đổi với Cục Chăn nuôi, cập nhật thông tin hàng ngày về nguồn cung thịt lợn, phối kết hợp trong trường hợp có những thông tin biến động. Từ đó, tham mưu lãnh đạo Bộ, báo cáo Chính phủ đẩy mạnh công tác đảm bảo chăn nuôi tái đàn và bù lại phần thiếu trong thời gian vừa qua.

Thời gian tới, ngoài cập nhật thông tin diễn biến về mặt hàng thịt lợn, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh cập nhật thông tin giá cả lợn hơi tại các tỉnh có sản lượng sản xuất lớn và tỉnh có nhu cầu nguồn cung lớn. Sau đó có báo cáo với lãnh đạo, và sớm có giải pháp tốt nhất, nhằm đảm bảo nguồn cung, ổn định cho thị trường, cũng như mặt hàng thiết yếu phục vụ người dân, người tiêu dùng trong thời gian Tết 2020.

3.Phóng viên Quang Lộc Báo Công Thương: Dự kiến tổng kim ngạch XNK hàng hóa nước ta sẽ cán mốc 500 tỷ USD vào cuối năm nay, chỉ sau 2 năm thành tích 400 tỷ USD được xác lập. Những hoạt động tiêu biểu của Bộ để đóng góp vào thành tích chung này là gì?

Bà Nguyễn Cẩm Trang- Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương):

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 11 tháng năm 2019, xuất khẩu của Việt Nam đạt 241,7 tỷ USD, nhập khẩu đạt 230,7 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt con số 472 tỷ USD. Với đà xuất nhập khẩu năm 2019 trung bình 43 tỷ USD/1 tháng, theo tính toán của Bộ Công Thương, nửa sau tháng 12/2019 xuất nhập khẩu sẽ cán mốc 500 tỷ USD. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng, thương mại toàn cầu giảm tốc, cộng với xuất khẩu của các nước trong khu vực đều giảm so với cùng kỳ năm trước…, con số trên đạt được là kết quả đáng khích lệ, thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương và cộng đồng doanh nghiệp trong thời gian qua. Năm 2019, công tác quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu của Bộ Công Thương tiếp tục được thực hiện có hiệu quả.

Bộ đã tiếp tục đẩy mạnh mở cửa thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thông qua các hoạt động đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại. Thời gian qua, Bộ Công Thương đã tích cực phối hợp các Bộ, ngành liên quan kết thúc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA); thỏa thuận về hợp tác thúc đẩy thương mại. Tính đến nay, nước ta Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 16 FTA, trong đó có 12 FTA đã ký kết và đi vào hiệu lực.

Bộ Công Thương đã và đang nỗ lực triển khai những công việc cần thiết để thực thi các Hiệp định và hỗ trợ doanh nghiệp khai thác lợi ích của các FTA như nội luật hóa các cam kết; tuyên truyền về tiến trình hội nhập và giải thích các cam kết; nghiên cứu, đánh giá tác động của các FTA, cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, v.v... Bên cạnh đó, Chính phủ và Bộ Công Thương đặc biệt quan tâm đến công tác triển khai thực hiện Hiệp định CPTPP. Công tác tuyên truyền, phổ biến về các Hiệp định FTA đã thực thi khác và Hiệp định EVFTA cũng được chú trọng thời gian qua. Kết quả ban đầu thông qua số liệu thống kê cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng tốt hơn các cơ hội do các FTA đem lại. Tổng kim ngạch sử dụng C/O ưu đãi chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường đối tác FTA. Đặc biệt, một số thị trường mới trong CPTPP có mức tăng tốt ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực như sang Canada, Mexico.

Bên cạnh đó, công tác thông tin thị trường cũng được Bộ Công Thương tích cực triển khai thông tin về thị trường, đặc biệt về thị trường xuất khẩu, thông tin kịp thời đến các doanh nghiệp để kịp thời ứng phó và đấu tranh có hiệu quả đối với các rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại bất hợp lý.

Ngoài ra, Bộ Công Thương còn có Bản tin thị trường nông sản, giá cả thế giới để cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp. Đối với thị trường Trung Quốc, thời gian qua, khi Trung Quốc có biện pháp quản lý nhập khẩu hàng nông sản, Bộ Công Thương đã tổ chức hội nghị, phổ biến những quy định, sổ tay hướng dẫn cho doanh nghiệp nắm vững quy định và thâm nhập vào thị trường này.

Bộ Công Thương còn tích cực triển khai theo chủ trương của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh. Đồng thời, Bộ liên tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, trong trường hợp có vướng mắc để kịp thời xử lý, đồng thời tăng cường biện pháp hiện đại hóa công tác cải cách thủ tục hành chính, tăng cường đưa lên dịch vụ công hành chính, kết nối một cửa quốc gia để giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu.

Những kết quả đạt được trong năm 2019 là tiền đề thuận lợi để hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2020 tiếp tục phát triển bền vững. Mặc dù, năm 2020 xác định còn nhiều khó khăn, Bộ Công Thương sẽ triển khai đồng bộ các biện pháp và phấn đấu năm 2020 đạt đúng chỉ tiêu về kim ngạch tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mà Chính phủ đã giao.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải:

Tôi xin bổ sung thêm một số nguyên nhân góp phần đạt kết quả kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 500 tỷ USD. Bộ Công Thương đã đẩy mạnh và làm tốt công tác xúc tiến thương mại trước hết là các hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống. Gần đây, Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp chủ động thực hiện đổi mới công tác xúc tiến thương mại, như đẩy mạnh việc ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động xúc tiến thương mại. Đơn cử như mới đây, trong vòng 3 năm tới (2020 – 2022), Bộ Công Thương đã ký kết hợp tác với Tập đoàn Amazon (Hoa Kỳ) – với hơn 300 triệu tài khoản, đưa các doanh nghiệp Việt Nam bán hàng trên mạng của Tập đoàn Amazon. Kết quả, trong năm 2019, hơn 50% doanh nghiệp Việt Nam tham gia Chương trình đã bán hàng thành công với các khách hàng Hoa Kỳ.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nhấn mạnh, kết quả xuất khẩu Việt Nam trước hết là nhờ nỗ lực, chủ động, cố gắng của doanh nghiệp Việt Nam đã nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình, để sản xuất, làm ra mặt hàng có thể cạnh tranh trên các thị trường. Bên cạnh đó, cùng với sự nỗ lực và hỗ trợ của các cấp, các ngành mới đạt được kết quả như thời gian vừa qua. Sắp tới, Lãnh đạo Chính phủ sẽ chủ trì sự kiện đánh dấu đặt mốc xuất nhập khẩu đạt 500 tỷ USD dự kiến vào nửa cuối tháng 12, năm 2019.

4. Phóng viên Quang Lộc Báo Công Thương: Về việc sửa đổi Nghị định 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, trách nhiệm của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc phối hợp với Bộ Công Thương điều hành giá và đảm bảo tiêu chuẩn mặt hàng xăng dầu lưu thông trên thị trường.

Ông Hoàng Anh Tuấn- Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước

Với Nghị định 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu (thay thế Nghị định số 84/2009/NĐ-CP), sau 5 năm đã đưa ra công tác quản lý giữa các bộ, ngành, trong đó Bộ Tài chính và Bộ Công Thương, đáng chú ý Bộ Công Thương quản lý việc kinh doanh xăng dầu rất tốt đã cơ bản vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với Nghị định 83.

Tuy nhiên, trong 5 năm vận hành hành Nghị định, trên góc độ, Chính phủ, Quốc hội đã sửa Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp cũng như tình hình thực tế, hướng phát triển kinh tế gần đây, chính vì vậy Nghị định 83 cũng phải sửa đổi. Ngoài ra chúng tôi phải thực hiện công tác chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về công tác sửa Nghị định 83 nhằm đảm bảo lợi ích của cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp, của người tiêu dùng trong thời gian tới.

Chi tiết cần sửa lại nội dung như sau: Thứ nhất vì những năm trước lĩnh vực sản xuất thấp so với nguồn nhập khẩu, 5 năm – 6 năm trước nhập khẩu xăng dầu chiếm trên 60-70%, thời gian qua chúng ta đã vận hành được 2 Nhà máy sản xuất nguồn cung trong nước đảm bảo đã đạt tới 70%. Cái này thể hiện rõ nguồn cung đã đủ, theo đó, chúng ta cần thay đổi, ban soạn thảo Vụ Tài chính, Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Công Thương hướng tới giải quyết vấn đề này trong Nghị định 83.

Nôi dung cơ quan báo chí quan tâm nhất tại thời điểm này là giữ hay không giữ Quỹ Bình ổn xăng dầu, Ban soạn thảo Bộ Công Thương quan điểm giữ Quỹ Bình ổn điều tiết thị trường ngành xăng dầu trong thời gian tới. Nghị định mới sẽ có hẳn một mục về Quỹ bình ổn giá, khắc phục những nhược điểm về quỹ này trong thời gian thực hiện trước đây.

Bên cạnh đó, liên quan đến các điều kiện theo chỉ đạo tinh thần chung của Đảng và Chính phủ, chúng tôi khẳng định đã cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh đối với các lĩnh vực quản lý của ngành Công Thương trong thời gian vừa qua. Tiếp tục trong thời gian tới qua tiếp cận đối với các Sở Công Thương, doanh nghiệp (DN) đầu mối, DN sản xuất, DN bán lẻ xăng dầu, tiếp thu ý kiến của các Hiệp hội về lĩnh vực xăng dầu chúng tôi tiếp tục cắt giảm đảm bảo mục tiêu quản lý hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Ngoài ra, chúng tôi hướng đến vấn đề đầu tư, tuy chưa đề cập trong Dự thảo, các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực xăng dầu như sản xuất và kinh doanh xăng dầu. Về phía Chính phủ cũng kêu gọi đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường trong nước đây là một trong những nguồn lực lớn cho đất nước phát triển kinh tế. Với tư cách cơ quan quản lý ngành, quản lý Nhà nước chúng ta cũng hướng đến đem lại lợi ích cho đất nước, doanh nghiệp. chúng ta cần tạo điều kiện cho các nhà đầu tư. Đây là mục tiêu hướng đến sửa Nghị đinh 83. Mong nhà báo và DN cũng đồng với Bộ Công Thương chúng ta hướng đến giải quyết, xử lý những bất cập của Nghị định 83 trong thời gian tới, đảm bảo công tác điều hành của Chính phủ và Bộ Công Thương, các bộ ngành một cách hiệu quả.

5.Phóng viên Nam Giang – Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh:Liên quan tới Vụ thị trường trong nước- Bộ Công Thương, tôi được biết cách đây hai tháng Bộ đã có Văn bản gia hạn thời gian xử lý kỷ luật với Vụ trưởng Trần Duy Đông vi phạm quy chế của công chức người lao động tại Vụ đã được thanh tra Bộ Công Thương kết luận các vi phạm liên quan vừa rồi Bộ Công Thương đã có gia hạn đến ngày 24/10 là hết hạn, tuy nhiên cho đến nay đã quá hai tháng rồi Bộ Công Thương vẫn chưa có công bố kết quả, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải chia sẻ thông tin cho báo chí biết tình hình triển khai kết luận vụ việc trên?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải:

Vụ việc Phóng viên đề cập liên quan đến Đơn tố cáo,kiến nghị xử lý hành vicủamột số cán bộ Vụ thị trường trong nước, Bộ Công Thương. Trong Đơn có 5 nội dung, 2 nội dung liên quan đến công tác chính quyền, 3 nội dung liên quan đến công tác Đảng. Về 3 nội dung về công tác Đảng, Đảng ủy Bộ Công Thương đã giao Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xử lý theo quy định của Đảng.Đối với2 nội dung thuộc thẩm quyền xử lý của chính quyền, Bộ Công Thương đã thành lập Hội đồng kỷ luật để tư vấn cho Bộ về việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với các cá nhân liên quan.Bộ Công Thương đã ban hành hình thức kỷ luật là “Khiển trách” đối với hai công chức của Vụ Thị trường trong nước:Ông Bùi Đức Điền và Ông Phan Hữu Thế Đức. Bộ cũng đã ban hành Văn bản số 8754/BCT-TCCB ngày 15 tháng 11 năm 2019, theo đó Bộ Công Thương phê bình nghiêm khắc Ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước do vi phạm trong công tác quản lý, điều hành, vi phạm Quy chế làm việc của Bộ: để công chức Vụ Thị trường trong nước đi công tác nước ngoài về Việt Nam muộn hơn so với thời gian trong Quyết định khi chưa được Bộ Công Thương phê duyệt bằng văn bản. Bộ Công Thương yêu cầu Ông Trần Duy Đông rút kinh nghiệm sâu sắc trong công tác quản lý điều hành, khắc phục hạn chế, khuyết điểm để thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ trong thời gian tới.

Văn bản này đã được gửi tới các đơn vị thuộc Bộ và các cá nhân có liên quan.

6. Phóng viên Mai Phương – Báo Đầu tư chứng khoán:Trong văn bản gần đây Bộ Tài chính có nêu Bộ Công Thương là một trong số đơn vị cổ phần hóa doanh nghiệp chậm chạp. Xin hỏi Bộ tiến độ cổ phần hóa hiện nay như thế nào và Bộ có giải pháp gì đẩy nhanh cổ phần hóa trong thời gian tới. Và hiện nay cũng có một số doanh nghiệp thoái vốn hiện cũng có trong danh mục trình lên Thủ tướng Chính phủ về thoái vốn từ nay đến năm 2020. Xin Bộ cho biết thông tin liên quan đến vấn đề này?

Bà Nguyễn Thị Hoa - Phó Vụ trưởng Vụ tài chính và Đổi mới doanh nghiệp:

Phạm vi về cổ phần hóa (CPH) của Bộ Công Thương, theo kế hoạch CPH của Bộ đến năm 2020, ngoài một số doanh nghiệp Bộ đã bàn giao Ủy Ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, hiện tại Quyết định 26/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15 tháng 8 năm 2019 về danh mục các doanh nghiệp thực hiện CPH giai đoạn 2019 - 2020, Bộ Công Thương sẽ phải thực hiện CPH tại 02 doanh nghiệp đó là Tổng Công ty giấy Việt Nam, Công ty TNHH một thành viên xây lắp thương mại và vật liệu xây dựng BMC. Hiện Bộ đang thực hiện rà soát các quy trình, thủ tục thực hiện CPH 2 đơn vị, song có một số khó khăn, vướng mắc liên quan trong quá trình triển khai thực hiện. Đối với Tổng Công ty giấy Việt Nam, khó khăn, vướng mắc lớn nhất là việc thoái vốn tại nhà máy bột giấy Phương Nam.

Ngoài ra, liên quan đến Nghị định 167 là đơn vị sản xuất giấy đặc thù, ảnh hưởng tới nguồn nguyên liệu của các nông lâm trường thực hiện theo Nghị quyết riêng của Chính phủ, theo NĐ 167 có yêu cầu rõ, khi thực hiện CPH phải thực hiện các phương án về nguồn đất, trong khi các đơn vị có nguồn đất lớn, nên gặp khó khăn nhất định, trong đó có việc sắp xếp các nông lâm trường, vùng nguồn nguyên liệu bị ảnh hưởng. 1 số đơn vị thuộc Ủy ban quản lý vốn nhà nước ở Phú Thọ, Hà Giang đang thực hiện thu hồi đất để phục vụ an sinh xã hội, phát triển kinh tế, do đó, Tổng Công ty giấy cũng bị ảnh hưởng, Bộ Công Thương đã có chỉ đạo rà soát lại vùng nguyên liệu, đặc biệt liên quan đến sắp xếp sử dụng đất sau khi CPH do đó, việc sắp sắp theo 167 theo trình tự chặt chẽ, khắt khe ảnh hướng đến tiện độ CPH. Liên quan đến xử lý tài chính, cũng tồn tại nhiều khó khăn về kiểm toán, cần thời gian thực hiện và sau khi xử lý phương án đất mới ra được quyết định CPH, và hiện nay, TCTY, BMC ddang thực hiện hoàn tất toàn bộ các quy trình, thủ tuc đến CPH, theo kế hoạch Bộ Công Thương sẽ thực hiện CPH 2 đơn vị này.

7. Phòng viên Nguyễn Thanh- báo Hải Quan:Năm nay CPTTP chính thức có hiệu lực từ 14/1/2019 đến đây đã gần khoảng 1 năm, theo báo cáo của bộ có khẳng định được là việc thực thi có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, tuy nhiên tăng chỉ ở một số thị trường thôi. Bộ có thể đánh giá rõ hơn tác động như thế nào đối với các mặt hàng chính được hưởng lợi từ đầu năm đến nay. Tôi được biết trong năm nay Bộ Công Thương có báo cáo gửi cho Thủ tướng nói rằng khó khăn trong công tác chuẩn bị và sự bị động của địa phương và doanh nghiệp trong thực hiện CPTTP cần nêu rõ hơn và năm tới dự kiến EVFTA sẽ được phía Nghị viện Châu Âu thông qua trong nửa năm vậy về phía Bộ có thể thông tin rỗ hơn đến thời điểm này? Tình hình trong năm tới EVFTA có được thực thi hay không?

Bà Nguyễn Sơn Trà – Phó Trưởng phòng WTO và đàm phán thương mại - Vụ Chính sách thương mại đa biên:

Liên quan đến tình hình thực thi CPTPP, Hiệp định này chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ 14/01/2019. Cho đến nay, Việt Nam đã triển khai Hiệp định trong vòng 1 năm. Hiện Hiệp định chưa có hiệu lực đầy đủ đối với tất cả các thành viên đã ký kết. Cụ thể, 4 thành viên còn lại là Peru, Chile, Brunei và Malaysia… đang tiến hành thủ tục phê chuẩn nội bộ nên Hiệp định chưa có hiệu lực đối với 4 nước này. Hiệp định này mới chỉ có hiệu lực với 7 nước đã dược phê chuẩn, nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước này đã có bước khởi sắc nhất định. Đặc biệt, nếu nhìn vào lượng giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) của Việt Nam cấp sang các nước CPTPP thì những thị trường lần đầu tiên với FTA là Mexico và Canada có số lượng C/O được cấp chiếm tỷ trọng lớn. Điều này cho thấy, trong 1 năm qua, doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu tận dụng được lợi thế trong việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước này.

Về việc tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp để họ có thể hiểu rõ, hiểu đúng và hiểu kỹ bản chất của các cam kết này, cũng như tận dụng lợi ích từ Hiệp định này, trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã phối hợp với cơ quan có liên quan, UBND các tỉnh, địa phương trên toàn quốc để triển khai một loạt các hoạt động thông tin tuyên truyền. Theo đó, việc triển khai tuyên truyền phổ biến được diễn ra dưới hình thức hội thảo, tập huấn chuyên sâu trong từng lĩnh vực cụ thể, như tra cứu biểu thuế, cách đọc biểu cam kết dịch vụ đầu tư, đọc biểu cam kết về quy tắc xuất xứ…

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng đẩy mạnh việc tuyên truyền phổ biến, triển khai theo các phương thức khác nhau. BCT đã xây dựng và vận hành trang web chính thức của Việt Nam về CPTPP, trong đó cập nhật thường xuyên các thông tin Hiệp định, tình hình thực thi của Việt Nam, giải thích các cam kết của Việt Nam và các nước CPTPP để doanh nghiệp nắm rõ, từ đó đảm bảo việc thực thi có hiệu quả.

Đối với EVFTA, Hiệp định cũng được ký kết vào 30/6/2019. Hiện tại, cả Việt Nam và EU đang khẩn trương đẩy mạnh quy trình thủ tục trong nước, tiến tới phê chuẩn Hiệp định trong thời gian sớm nhất.

Riêng Việt Nam, theo quy định của Luật Hiệp ước quốc tế 2016, việc phê chuẩn EVFTA phải trải qua 3 bước. Đầu tiên, Bộ Công Thương phải trình hồ sơ lên Chính phủ sau khi lấy ý kiến đầy đủ của các Bộ, ngành có liên quan. Sau đó Chính phủ trình bộ hồ sơ lên Chủ tịch nước và cuối cùng, Chủ tịch nước sẽ trình bộ hồ sơ lên Quốc hội để xem xét phê chuẩn. Hiện tại, Việt Nam đang ở bước đầu tiên đối với bộ hồ sơ trình phê chuẩn.

Ngoài ra, công tác chuẩn bị cho việc thực thi Hiệp định khi Hiệp định sau này chính thức đi vào triển khai cũng đã được Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương triển khai một số hoạt động. Cụ thể, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp tiến hành rà soát toàn bộ văn bản quy định pháp luật hiện hành để từ đó kiến nghị sửa đỏi, bổ sung hoặc ban hành mới, đảm bảo phù hợp hoàn toàn với những cam kết của Việt Nam trong Hiệp định EVFTA. Theo đó, Bộ Tư pháp cũng đã hoàn tất việc rà soát và báo cáo với Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã giao Bộ Công Thương chủ động xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ để triển khai Hiệp định EVFTA. Chương trình hành động này của Chính phủ sẽ là cơ sở để các bộ, ngành có liên quan cũng như cơ quan các địa phương ban hành các chương trình hành động tương ứng của Bộ, ngành, địa phương mình để đảm bảo việc thực thi Hiệp định được đồng bộ, hiệu quả. Theo đó, Bộ Công Thương song song với xây dựng bộ hồ sơ phê chuẩn cũng đang dự thảo Chương trình hành động này của Chính phủ về thực thi EVFTA.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải: Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường là thành viên CPTPP đạt mức tăng trưởng tốt, thể hiện bước đầu tận dụng hiệu quả các cam kết từ Hiệp định này để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Cụ thể, xuất khẩu sang Canada 11 tháng năm 2019 đạt 3,5 tỷ USD, tăng 27,2%; xuất khẩu sang Mexico đạt 2,7 tỷ USD, tăng 29,5%.

Tuy nhiên, theo tôi, nhiều doanh nghiệp, cơ quan, địa phương chưa quan tâm đúng mức, vì vậy chưa tận dụng được lợi thế do các Hiệp định đã có hiệu lực mang lại. Bộ Công Thương đang tập trung công tác tuyên truyền về nội dung các Hiệp định đã ký kết và đã có hoặc sắp có hiệu lực, đưa ra các thông tin về từng ngành hàng, mặt hàng, thị trường liên quan, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài nước, cơ quan Đại diện Việt Nam tại nước ngoài, các doanh nghiệp..., để đẩy mạnh thúc đẩy hoạt động thương mại, nhất là xuất khẩu tại các thị trường mà chúng ta ký kết.

8. Phóng viên Nguyên Long VOV: Chúng tôi rất ghi nhận Bộ Công Thương trong việc cung cấp điện năm 2019 để đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên chúng tôi đang tuyên truyền về xả nước đổ ải vụ Đông Xuân, chúng tôi được biết năm nay mặc dù đã giảm rất nhiều lượng nước xả xuống cho khu vực Đồng bằng Bắc Bộ chỉ còn hơn 4,4 tỷ m3, Tuy nhiên khả năng nếu như đưa nước về cho khu vực Đồng bằng Bắc bộ như vậy thì hai hồ Thủy điện Sơn La và Hòa Bình sẽ rơi vào mực nước chết. Xin được hỏi là để đảm bảo điện cho mùa khô năm 2020 được Bộ Công Thương hiến kế như thế nào để đảm bảo dự phòng cho nguồn điện mặt trời khá là lớn nếu như có xảy ra sụt giảm bất thường của thời tiết sẽ có phương án cụ thể như thế nào?

Ông Nguyễn Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực:

Năm 2019 nước về rất nhiều hồ trong cả nước thấp hơn nhiều so với dự kiến, như Hồ Hoà Bình hồ lớn ở phía Bắc, dự kiến đến 31/12 khả năng nước tích thấp hơn mực nước dâng bình thường khoảng 15m; Sơn La khoảng 13m. Ước tính tổng sản lượng điện tích được trong các hồ thuỷ điện trong năm 2019 thấp hơn 4,4 tỷ kWh so với sản lượng tính toán với mực nước dâng bình thường.

Với tình hình khó khăn này, ngay từ những tháng cuối năm 2019, Bộ Công Thương đã chỉ đạo EVN, Trung tâm điều động hệ thống điện quốc gia, phải có phương thức vận hành hợp lý để tích nước các hồ thủy điện chuẩn bị cho việc cung cấp điện trong năm 2020.

Cũng vì tình hình này, trong những tháng cuối năm Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên Môi trường chúng tôi đã có nhiều buổi họp, trao đổi với UBND các tỉnh và thành phố để điều tiết, sử dụng nước tại các hồ thuỷ điện tiết kiệm hiệu quả, phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời với việc phát điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho người dân. Riêng với hồ Hoà Bình, ngoài 2 nhiệm vụ trên, còn có nhiệm vụ xả nước xuống hạ du, cấp nước cho nhà máy nước sông Đà với lưu lượng bình quân là 400m3/s để nhà máy lọc nước, cấp nước cho người dân ở Hà Nội.

Bộ Công Thương đã hết sức chủ động làm việc với Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, UBND các tỉnh và thành phố trong vấn đề tuyên truyền đôn đốc các đơn vị triển sử dụng nước hiệu quả. Ví dụ, ngày hôm qua, Bộ Công Thương đã tham gia đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn đi kiểm tra một số đơn vị trạm bơm ở các khu vực xung quanh Hà Nội, đôn đốc các đơn vị nạo vét kênh mương, trạm bơm để tận dụng nguồn nước.

Hiện nay theo tính toán trong năm 2020, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đang đề nghị tổ chức 3 đợt đổ ải, kéo dài 18 ngày, tổng lượng nước cấp cho hạ du để phục vụ tưới tiêu khoảng 4 tỷ m3. Với tình hình nước, nhu cầu điện nay và riêng hồ chứa Hoà Bình còn phải cấp nước cho nhà máy nước sông Đà và Thủ đô Hà Nội là hết sức khó khăn.

Do vậy, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp, các tỉnh, thành phố, kiểm tra đôn đốc các giải pháp nói trên. Riêng với Thủ đô Hà Nội, cần đặt các trạm bơm dã chiến, để cấp nước, tưới tiêu cho nông nghiệp mà không cần đến đợt xả nước. Đồng thời, yêu cầu các tỉnh chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và PTNT, các công ty thủy lợi ở địa phương phối hợp với các nhà máy điện để tính toán hiệu quả nhất lượng nước từ các nhà máy thủy điện. Cụ thể tính toán ngày giờ để xả nước tiết kiệm tối đa; bằng nhiều giải pháp kỹ thuật giảm thiểu thời gian (giảm số ngày đổ ải) xả nước đổ ải xuống hạ du; đôn đốc tuyên truyền sử dụng nước hiệu quả, có giải pháp nạo vét kênh mương, tận dụng nguồn nước.

Về phía ngành điện, chỉ đạo EVN, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia, các đơn vị phát điện tuyệt đối tuân thủ quy trình điều tiết liên hồ chứa do Thủ tướng ban hành. Song song đó, chủ động làm việc với các địa phương, các đơn vị cung cấp thủy lợi để phối hợp trong vấn đề sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả.

Chúng tôi yêu cầu Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia và các nhà máy điện có phương thức vận hành phù hợp với tình hình nước về và mức nước của từng hồ nhằm đảm bảo mục tiêu tích nước chuẩn bị cho nhiệm vụ phát điện trong năm 2020.

Bộ Công Thương đang soạn thảo và sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới về việc ban hành chỉ thị của Thủ tướng mới về công tác tiết kiệm điện.

Thông qua các đồng chí phóng viên, trong thời gian tới khi Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị này Bộ Công Thương rất mong sự phối hợp của các báo, đài về tuyên truyền, sử dụng điện và nước tiết kiệm, hiệu quả.
 

Văn phòng Bộ


Tags:
Tin liên quan
THÔNG BÁO MỚI
1
2
3
Video
Xem toàn bộ