Truy cập nội dung luôn
Thông tin họp báo Xem cỡ chữ

Tổng hợp những vấn đề chính tại Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương ngày 04/7/2019

06/07/2019

Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ của Bộ. Tại buổi họp báo, Bộ Công Thương đã cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019.

Kết quả đạt được của ngành Công Thương trong 6 tháng đầu năm như sau:

Theo kịch bản tăng trưởng năm 2019 của Chính phủ nhằm đảm bảo đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của cả nước ở mức 6,6% - 6,8%, ngành Công Thương có 3 nhóm chỉ tiêu được giao gồm: Chỉ tiêu về tăng trưởng sản xuất công nghiệp; Chỉ tiêu về kim ngạch xuất khẩu và cán cân thương mại; Chỉ tiêu về tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng. Qua 6 tháng đầu năm 2019, kết quả đạt được trên các lĩnh vực hoạt động công nghiệp và thương mại cho thấy đã cơ bản đạt được theo chỉ tiêu kịch bản đề ra.

1. Đối với lĩnh vực sản xuất công nghiệp:

6 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, duy trì tỷ lệ tăng dần qua các tháng. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp ước tăng 9,13%, vượt mục tiêu đề ra trong kịch bản tăng trưởng (là 6T/2019 tăng 9,09%).

+ Chỉ số sản xuất công nghiệp của 2 nhóm ngành là Khai khoáng và Sản xuất, phân phối điện đạt cao hơn so với kịch bản dự kiến: Ngành khai khoáng tăng 1,2%, vượt mục tiêu đề ra tại kịch bản tăng trưởng (mục tiêu là giảm 7%), nhờ khai thác than, quặng kim loại đều tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô và khai thác dầu thô có mức giảm thấp hơn cùng kỳ năm trước. Ngành điện sản xuất, cung ứng và phân phối điện theo kế hoạch, vận hành hệ thống điện an toàn, linh hoạt, kịp thời, về mức tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra, tăng trưởng 9,8% trong 6 tháng đầu năm 2019 (mục tiêu là 9,6%).

+ Chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ, đạt thấp hơn mục tiêu đề ra của Bộ Công Thương (mục tiêu là 12,7%) và thấp hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 12,7%). Tuy nhiên vẫn là điểm sáng, đóng góp chính vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp và tăng trưởng của toàn nền kinh tế.

Nguyên nhân tăng trưởng của nhóm công nghiệp chế biến chế tạo đạt thấp chủ yếu do: (1) Một số dự án lớn có đóng góp cho tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp như: Liên hợp lọc dầu Nghi Sơn gặp sự cố về điện nên đã phải tạm dừng hoạt động 33 ngày; (2) Nhà máy đạm Phú Mỹ dừng hoạt động 69 ngày; (3) Samsung đang ở chu kỳ chuyển đổi sản phẩm, nên sản lượng và xuất khẩu thấp hơn nhiều so với cùng kỳ; (4) Các dự án ngành điện bị chậm tiến độ do vướng mắc trong thực hiện Luật Quy hoạch và công tác đền bù giải phóng mặt bằng nhất là các dự án lưới điện truyền tải.

Như vậy, đến thời điểm hiện nay, tăng trưởng của các ngành sản xuất công nghiệp cơ bản đã và đang bám sát theo kịch bản đề ra.

2. Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu:

+ Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khả quan, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2018.

+ Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước tiếp tục ghi nhận sự vươn lên mạnh mẽ và có mức tăng cao 10,4%. Đây là mức tăng cao hơn mức tăng trưởng chung (7,1%) và cao hơn xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ tăng 5,7%, qua đó cho thấy vai trò ngày càng tích cực của khối doanh nghiệp trong nước đối với tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung.

+ Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng từ mức 82% của 6 tháng năm 2018 lên 83,5% trong 6 tháng đầu năm 2019.

+ Tính đến hết tháng 6 năm 2019, đã có 22 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, tăng 1 mặt hàng so với 6 tháng năm 2018. Có tới 35/45 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý là 6 tháng đầu năm bổ sung thêm 2 mặt hàng mới đạt giá trị trên 2 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước là rau quả và xơ, sợi dệt với kim ngạch xuất khẩu đạt lần lượt là 2,08 tỷ USD và 2,01 tỷ USD.

+ Việt Nam đã tận dụng tốt các ưu đãi về thuế quan trong các FTA đã ký kết để mở rộng các thị trường xuất khẩu mới. Trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sang các thị trường có ký kết FTA với Việt Nam đa số đều đạt mức tăng trưởng tốt như xuất khẩu sang Nhật Bản tăng 9,1%; xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 6,0%; xuất khẩu sang ASEAN tăng 6,7%. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường là thành viên CPTPP đạt mức tăng tốt, thể hiện bước đầu tận dụng hiệu quả các cam kết từ hội nhập để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu.

+ Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu ổn định theo chiều hướng tích cực với kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu và máy móc thiết bị phục vụ chủ yếu cho sản xuất và gia công xuất khẩu tăng do nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ việc mở rộng sản xuất cũng như đầu tư mới của DN.

+ Cán cân thương mại của Việt Nam vẫn duy trì đà xuất siêu, với kim ngạch xuất siêu ở mức 1,64 tỷ USD.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu sụt giảm, xuất khẩu của nhiều nước trong khu vực tăng thấp, xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng thì kết quả xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2019 của Việt Nam có thể xem là một kết quả khá tích cực cho thấy sự nỗ lực rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu.

3. Đối với lĩnh vực thương mại trong nước

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm nay đạt 2.391,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, cơ bản đạt mục tiêu đề ra tại kịch bản tăng trưởng ngành Công Thương. Mức tăng này tuy thấp hơn mức tăng của 6 tháng năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 6 tháng của các năm giai đoạn 2015-2017. Có thể nói, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tiếp tục duy trì mức tăng trưởng tốt, tạo tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu cả năm 2019 tăng ở mức 11,5 - 12%.

4. Về công tác hội nhập quốc tế

6 tháng đầu năm 2019, Bộ Công Thương chủ trì tham dự các sự kiện trong hợp tác nội khối và ngoại khối ASEAN; Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đại diện cho Việt Nam và Cao ủy thương mại Cecilia Malmstrom, Bộ trưởng Romania phụ trách kinh doanh, thương mại và doanh nghiệp Stefan-Radu Oprea đại diện cho EU đã ký kết chính thức Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu - EU (EVFTA). Bên cạnh đó, Bộ cũng tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với EVFTA, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đối với nền kinh tế Việt Nam; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng phương án trình Thủ tướng Chính phủ về việc đàm phán và ký kết một Hiệp định FTA mới với Anh có nội dung trên nền tảng Hiệp định EVFTA... ; Ngoài ra, Bộ đã có nhiều hoạt động, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hỗ trợ các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường, chuẩn bị thủ tục, nguồn hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường CPTPP.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

Trong khuôn khổ họp báo Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải, Người phát ngôn của Bộ Công Thương và đại diện các Đơn vị thuộc Bộ đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí. Nội dung cuộc họp báo xoay quanh các vấn đề chính, bao gồm: vấn đề Central Group Việt Nam dừng nhập hàng của doanh nghiệp dệt may Việt Nam; về hiệp hội điện gió Bình Thuận đã gửi công văn đến Bộ Công Thương và EVN phản ứng việc bị ép cắt giảm công suất điện; vụ việc xảy ra tại Asanzo; về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam; việc cấp phép ồ ạt dự án điện mặt trời vượt quy hoạch Sơ đồ điện 7 điều chỉnh; viêc xây dựng bộ tiêu chí xác định “hàng Việt Nam” hay “Made in VN” đến nay Bộ vẫn chưa công bố…

- Nhóm câu hỏi về vấn đề Central Group Việt Nam dừng nhập hàng của doanh nghiệp dệt may Việt Nam (Phóng viên Quỳnh Anh - Báo Điện tử Tổ quốc; Nguyễn Văn Hương – Zing News; Nguyễn Thảo – Bizlive);

1. Quan điểm của Bộ Công Thương thế nào về việc Big C dừng mua hàng dệt may Việt Nam?

2. Bộ Công Thương cho biết nội dung đã trao đổi giữa Vụ Thị trường trong nước, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và Lãnh đạo siêu thị BIG C về vấn đề Central Group Việt Nam dừng nhập hàng của doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

3. BIG C Việt Nam dừng nhập hàng may mặc của các nhà cung ứng Việt Nam, quan điểm của Bộ Công Thương về vấn đề này? Bộ Công Thương nói gì về lo ngại hàng Việt Nam, hàng của doanh nghiệp Việt Nam bị đẩy ra khỏi hệ thống siêu thị này? Bản thân các nhà cung ứng Việt Nam cần làm gì trong sự việc này?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Trong 2 ngày gần đây, nhất là ngày 3/7, các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa thông tin phía Big C sẽ ngừng nhập hàng dệt may trong hệ thống Big C. Trước tình hình như vậy, Bộ Công Thương đã mời đại diện Tập đoàn Central Group Việt Nam - đã mua và được sở hữu chuỗi siêu thị mang thương hiệu Big C trong thời hạn 10 năm. Sáng 04/7 chúng tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo tập đoàn và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Thái Lan tại Việt Nam.

Chúng tôi đánh giá cao Big C và Tập đoàn Central Group Việt Nam trong việc tạo công ăn việc làm cho 17.000 lao động trực tiếp và hàng chục ngàn lao động gián tiếp trong vận hành hệ thống của họ. Riêng Big C đang có 9.000 lao động Việt Nam. Họ cũng đóng góp ngân sách 1.000 tỷ đồng, trong đó riêng Big C đóng góp 500 tỷ đồng.

Chúng tôi cũng có hợp tác với nhiều chuỗi bán lẻ Việt Nam như AEON, Big C, Lotte trong việc thực hiện các chương trình thu mua hàng nông sản Việt Nam với chiết khấu 0%; các chương trình sinh kế cộng đồng hỗ trợ cho nông dân vùng sâu vùng xa; tổ chức Tuần lễ OCOP tại hệ thống Big C, tuần lễ vải nhãn…

Không chỉ mang hàng hóa vào thị trường trong nước, Tập đoàn Central Group Việt Nam cũng phối hợp với Bộ Công Thương trong việc tổ chức Tuần lễ hàng Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Như năm ngoái, họ đã hỗ trợ Bộ Công Thương tổ chức Tuần hàng Việt Nam tại Thái Lan ở ngay tại trung tâm sầm uất nhất của Thủ đô Băng Cốc. Họ đã giúp chúng ta mang hàng đến siêu thị, quảng bá hàng hóa và văn hóa Việt Nam.

Tại cuộc họp, phía Central Group Việt Nam cũng cho biết họ có những chiến lược mới cho ngành hàng may mặc tại các kênh phân phối tại Việt Nam. Họ cũng xác định lại hệ thống, module tại hệ thống cửa hàng nên họ đã tạm dừng mua hàng của một số DN Việt Nam và việc này sẽ diễn ra trong khoảng 15 ngày. Hiện, Tập đoàn đã gửi thư cho các nhà cung ứng, đối tác giải thích rằng việc dừng mua hàng là tạm thời và tất cả các đơn hàng khác đã ký trước đó vẫn tiếp tục được thực hiện,

Central Group có 4.000 nhà cung ứng Việt Nam, trong đó có 200 nhà cung ứng dệt may bị dừng đơn hàng. Quan điểm của Bộ Công Thương, một mặt đánh giá các nhà đầu tư nước ngoài, ở đây là Central Group Việt Nam trong việc xác lập hệ thống bán lẻ, hỗ trợ nhà sản xuất, hỗ trợ nông dân với việc chiết khấu 0%; trực tiếp đưa hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng qua trung gian là tốt. Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng việc dừng mua hàng của Central Group là việc riêng của Big C và các DN Việt Nam và phải được thực hiện thông qua các hợp đồng đã ký, cơ sở pháp lý, pháp luật Việt Nam như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Cạnh tranh… Quan điểm của chúng tôi là một mặt hết sức hoan nghênh và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng mặt khác, kiên quyết bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam và quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam.

Cũng trong buổi làm việc, Big C cũng cam kết ngay trong ngày hôm nay 04/7 sẽ mở đơn hàng cho 50/200 nhà cung cấp dệt may Việt Nam. Trong 2 tuần tới, Big C tiếp tục có làm việc chặt chẽ với các nhà cung cấp của Việt Nam và 100 nhà cung cấp nữa sẽ tiếp tục được mở đơn hàng. Còn 50 nhà cung cấp Việt Nam còn lại sẽ tiếp tục cùng với họ làm kỹ hơn về việc nhiều DN chưa đáp ứng được các cam kết theo hợp đồng đã ký. Central Group khẳng định đã tuân thủ hợp đồng đã ký cũng như tuân thủ các hợp tác với Việt Nam. Bộ Công Thương khẳng định tiếp tục phối hợp để đảm bảo cho lợi ích nhà đầu tư, đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp sản xuất, cung ứng và người tiêu dùng Việt Nam.

Tại cuộc họp, chúng tôi cũng mời đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam tham dự cùng, sau đó ký biên bản về nguyên tắc về hợp tác giữa hai bên để sau này có những vấn đề tương tự thì doanh nghiệp sẽ giải quyết. Bộ Công Thương sẽ tham gia với vai trò hỗ trợ, tạo môi trường, cơ sở pháp lý để họ có cơ sở kinh doanh lâu dài tại Việt Nam.

- Nhóm câu hỏi về vấn đề năng lượng (Phóng viên Ngọc An - Báo Tuổi trẻ; Hoài Thu – Báo Điện tử VnExpress):

1. Hiện nay có tình trạng hàng loạt dự án điện gió, điện mặt trời đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, bất cập của Luật Quy hoạch khiến việc triển khai các dự án lưới truyền tải gặp khó khăn khiến các nhà máy đã xây dựng xong không thể phát tải lên hệ thống. Bộ Công Thương có giải pháp gì dài hạn để các nhà máy điện đảm bảo đưa điện lên hệ thống?

2. Quá tải lưới điện khi dự án điện mặt trời ồ ạt vào vận hành những ngày cuối tháng 6 khiến EVN phải cắt giảm công suất các dự án trên địa bàn Bình Thuận, Ninh Thuận. Việc cấp phép vượt quy hoạch Sơ đồ điện 7 điều chỉnh có phải là nguyên nhân dẫn tới hệ lụy này?

Là cơ quan quản lý, Bộ Công Thương có giải pháp trước mắt, lâu dài khắc phục tình trạng trên?

Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo lý giải ra sao việc cấp phép ồ ạt dự án điện mặt trời mà không tính tới bài toán ân đối với lưới truyền tải điện?

Việc cắt giảm công suất trên có đúng quy định hay không? Nếu không đúng hợp đồng, quy định EVN có phải chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại hay không?

Phó Cục trưởng Bùi Quốc Hùng - Cục điện lực và năng lượng tái tạo trả lời:

Thực tế, đối với giấy phép sử dụng điện năng lượng tái tạo,điện mặt trời, điện gió, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, trong đó, cơ chế ưu đãi về giá điện với giá 9,35 Uscents/kWh có thời hạn đến tháng 6/2019. Từ những ưu đãi Quyết định 11, các địa phương có tiềm năng về năng lượng tái tạo, về năng lượng mặt trời đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn, đặc biệt là Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Đắk Lắk. Cùng với đó, các địa phương khác cũng bổ sung quy hoạch điện gió. Trong khi đó, Quyết định 39/2018/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, với giá bán lẻ mỗi kWh điện gió tăng từ 7,5 Uscent lên 8,5 Uscent đối với khu vực trên bờ, 9,8 Uscent đối với khu vực ngoài khơi. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục bổ sung vào Quy hoạch phát triển điện gió và trong Quy hoạch phát triển địa phương cũng như quy hoạch phát triển quốc gia.

Tuy nhiên, hiện nay đang vướng trong quy hoạch, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải đã giải thích ngay từ đầu, đó là tất cả những quy hoạch bổ sung, quy hoạch phát triển tỉnh, quy hoạch quốc gia, hiện nay trong Luật Quy hoạch mới được thông qua từ 1/1/2019, tuy nhiên luật này chỉ áp dụng quy hoạch mới, quy hoạch trong quốc gia, quy hoạch vùng, đất, vùng biển… còn quy hoạch thích hợp phát triển điện lực thì hiện nay chưa có quy định.

Hiện Bộ Công Thương đã trình Chính phủ, Quốc hội bổ sung quy hoạch đang vướng và đang điều chỉnh bổ sung cho các dự án này.

Vấn đề 2 là đấu lưới một số dự án điện mặt trời Ninh Thuận, Bình Thuận và các dự án đến 30/6/2019 đi vào phát điện và vận hành. Tuy nhiên, một số dự án ở Bình Thuận quá tải, dẫn đến việc hệ thống điện không tải hết các công suất lưới điện này.

Ngay từ khi bổ sung các quy hoạch điện tỉnh, quy hoạch quốc gia, Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ để có những giải pháp giải quyết vướng mắc này. Tuy nhiên, đầu tư về truyền tải rất khó khăn, mất nhiều thời gian. Ví dụ như đường dây 500kv chậm thì mất 3 năm, nhanh thì cũng phải 2 năm. Trong khi đó, đầu tư nhà máy điện mặt trời 50MW, thậm chí 100MW chỉ đầu tư nhanh, trong 6 tháng. Điều này dẫn đến việc phát triển đường dây truyền tải thừa, không theo kịp tiến độ dự án mặt trời.
Việc bổ sung quy hoạch mặt trời vào Quy hoạch phát triển điện của tỉnh chưa xây dựng liên kết với quy hoạch phát triển điện quốc gia đường dây 200kV, dưới 500kV phải được đưa vào quy hoạch phát triển quốc gia. Hai vấn đề này chưa vào cùng tích hợp với nhau.

Tuy nhiên, thời gian qua, giải quyết vấn đề này, Bộ Công Thương đã có nhiều giải pháp.

Về quy hoạch, Bộ Công Thương đã có tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ 7854/BCT-ĐL ngày 27/9/2018 , Chính phủ có Văn bản 1891/TTg-CN đồng ý phát triển bổ sung Quy hoạch điện VII điều chỉnh danh mục các dự án lưới điện truyefn tải, nhằm giải tỏa công suất các nguồn điện mặt. Cụ thể, được bổ sung xây dựng mới 11 dự án lưới điện, thông qua trạm biến áp (TBA) 500kV Thuận Nam và đường dây (ĐD) 500KV Thuận Nam – Chơn Thành về trung tâm phụ tải khu vực phía Nam. Cụ thể: TBA 500/220kV Thuận Nam, ĐD 500 đấu nối TBA 500kV Thuận Nam chuyển tiếp 4 mạch trên ĐD 500 kV Vân Phong – Vĩnh Tân, ĐD 500kV mạch kép Thuận Nam – Chơn Thành, ĐD 220 kV Vĩnh Tân – Tháp Chàm, các ĐD 220kV mạch kép 220kV Ninh Phước – Vĩnh Thân, nâng công suất các TBA 500 kV Vĩnh Tân, Di Linh, nâng công suất các TBA 220kV Tháp Chàm….

Điều chỉnh tiến độ, quy mô so với Quy hoạch điện VII điều chỉnh 4 dự án: gồm 3 dự án TBA 220kV, Máy biến áp thứ 2 TBA 220kV Hàm Tân.

Vừa qua, EVN và Tổng công ty truyền tải quốc gia Việt Nam trong cuối tháng 5 đã chính thức đón nhận đường dây 500kV Vĩnh Tân, đảm bảo tương đối công suất của các dự án lưới điện mặt trời.

Về tiến độ xây dựng đường dây, các công trình ĐD 110kV có 6 công trình sẽ đóng điện năm 2019 như ĐD Lương Sơn – Hòa Thắng – Mũi Né, Tháp Chàm – Ninh Thuận – Phan Rí..

Dự kiến 5 công trình cuối năm 2019, 5 công trình sẽ hoàn thành đầu năm 2020 như: ĐD Tháp Chàm – Ninh Phước – Phan Rí và Phan Rí – Lương Sơn, Lương Sơn – Mũi Né – Phan Thiết, trạm 220kV Phan Rí 2 – Đại Ninh.

Tuy nhiên, việc đầu tư triển khai xây dựng các đường dây gặp nhiều khó khăn về vốn đầu tư, vốn về thời gian thi công. Và đặc biệt khó khăn về đền bù giải phóng mặt bằng. Có những công trình chỉ vướng 1-2 hộ dân nhưng kéo dài hàng năm mới giải phóng. Ngoài ra, công tác lựa chọn nhà thầu gặp nhiều khó khăn, ít nhà thầu tham dự do hàng loạt dự án nguồn năng lượng tái tạo đang triển khai đã thu hút gần như toàn bộ nhân lực của các nhà thầu xây lắp.

Về các công trình đang chuẩn bị đầu tư, đó là nâng công suất Vĩnh Tân TBA 500kV Vĩnh Tân quy mô 2 x 900 MVA, dự kiến khởi công quý I/2020, đóng điện quý IV/2020; nâng công suất TBA 500kV Di Linh 900MVA khởi công vào quý 1/2020, đóng diện quý IV năm 2020. Nâng công suất trạm 220kV Tháp Chàm công suất 2 x 250MVA khởi công quý IV/2019, sẽ đóng điện vào quý I/2020. TBA 220kV Ninh Phước và đấu nối công suất 2 x 250 MVA khởi công quý IV năm 2019, đóng điện quý IV/2020.

Ngoài ra, các dự án đang thi công: TBA 220 kV Phan Rí công suất 2 x 250MVA đã khởi công tháng 12 năm 2018. Tuy nhiên, đang giải phóng mặt bằng, dự kiến đóng điện quý II/2020. ĐD 220kV Nha Trang – Tháp Chàm 2 x 88km khởi công tháng 12/2016, hiện cũng đang vướng mắc.

Hy vọng năm 2020 cũng như năm tiếp theo với những giải pháp đó có thể đáp ứng, giải tỏa cơ bản công suất từ các nhà máy điện mặt trời.

Về những giải pháp, Bộ Công Thương đã chỉ đạo EVN, Tổng công ty truyền tải điện quốc gia, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia khẩn trương tổ chức nhiều cuộc họp về tình hình vận hành thương mại các nhà máy điện mặt trời, tháo gỡ các vướng mắc, đôn đốc tiến độ vận hành các dự án lưới điện. Một mặt kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ có cơ chế xã hội hóa, có thể tư nhân đầu tư xây dựng truyền tải, tháo gỡ khó khăn về vốn cho Tổng công ty truyền tải điện quốc gia. Đồng thời, báo cáo Thủ tướng Chính phủ có những cơ chế điện chống quá tải lưới điện năm 2020.

Trả lời câu hỏi về việc quyết định cấp phép không đồng bộ với quy hoạch, ông Bùi Quốc Hùng cho rằng, thực tế trong quá trình triển khai quy hoạch, cũng như thẩm định, trình báo cáo, EVN đã có nêu vấn đề giải tỏa công suất. Đối với các trường hợp các dự án năng lượng tái tạo có những giải pháp giảm công suất khác để đảm bảo lưới điện, cũng như trong trường hợp khẩn cấp, như điện yếu, hệ thống nhà máy điện mặt trời hay có rủi ro về thiên nhiên, dẫn đến dao động công suất, tần suất điện VN rất lớn. Ví dụ đang vận hành cả hệ thống, bất chợt có đám mây thì sẽ ngừng sản xuất, hệ thống dao động công suất lớn. Nếu không khẩn trương kịp thời lưới điện an toàn có thể dẫn đến giá thành rất lớn. Chính vì vậy, việc vận hành rất quan trọng, trong nhiều trường hợp để có những nhà máy có vận hành chừng mực và đảm bảo quy trình, không chỉ riêng quy trình giải tỏa công suất. Hiện nay tương đối và phần lớn công suất nhà máy điện mặt trời đáp ứng được. Hy vọng đấu lưới điện đang triển khai sẽ đồng bộ vào cuối năm 2019, đáp ứng giải tỏa hết công suất nhà máy điện.

Trả lời câu hỏi về việc hiện nay, Hiệp hội Điện gió Bình Thuận đang kiến nghị về việc cắt giảm công suất do điện mặt trời vào một cách ồ ạt, khiến đường dây quá tải, dẫn đến cắt giảm công suất của điện gió, ông Bùi Quốc Hùng thông tin, chỉ mới có 3 địa phương có điện gió lớn nhất là Bình Thuận, Bạc Liêu và Quảng Trị. Trước đây các nhà máy điện gió hoạt động rất ít, vì theo Quyết định 37 cơ chế giá thấp nên không có nhiều nhà máy điện gió vào đầu tư. Tuy nhiên, sau khi có Quyết định 39, nhiều nhà đầu tư đã tiếp tục nghiên cứu và bổ sung xây dựng dự án nhà máy điện gió, tuy nhiên mới đang ở trong điều chỉnh và bổ sung quy hoạch.

- Phóng viên Phương Thảo - Báo Bizlive:

Liên quan đến việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ cho rằng một số sản phẩm thép tại Hàn Quốc và Đài Loan xuất sang Việt Nam, sau đó XK ngược lại phía Mỹ để trốn thuế, Bộ Công Thương đã làm việc với phía Hoa Kỳ chưa và giải pháp gì được đề ra để không ảnh hưởng đến sản phẩm thép Việt Nam?

Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại Lê Triệu Dũng trả lời:

Ngày 2/7/2019, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ban hành kết luận sơ bộ vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với sản phẩm thép cán nguội và thép chống ăn mòn có nguồn gốc từ Việt Nam sử dụng nguyên liệu là thép cán nóng nhập khẩu từ Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc. Việc này được phía Hoa Kỳ khởi xướng điều tra từ ngày 2/8/2018.

Trước đó, Hoa Kỳ áp dụng biện pháp chống bán phá giá, trợ cấp với thép cán nguội và thép chống ăn mòn từ Trung Quốc và Hàn Quốc từ năm 2016. Sau 11 tháng điều tra, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã sơ bộ kết luận rằng sản phẩm thép cán nguội và thép chống ăn mòn sử dụng thép cán nóng nhập khẩu từ Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc là việc chuyển đổi không đáng kể để đối phó với việc chống bán phá giá trợ cấp mà Hoa kỳ đang áp dụng đối với Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).

Đây là vụ việc điều tra xác định hành vi lẩn trốn thuế. Trong trường hợp thép cán nguội hoặc thép chống ăn mòn của Việt Nam được sản xuất từ nguyên liệu của Việt Nam hoặc các nước nhập khẩu khác thì không bị áp thuế trong trường hợp này. Theo quy định trước đây của Hoa Kỳ, nếu DN nhập khẩu thép cán nóng, sau đó sản xuất thành chủng loại thép khác thì được coi là chuyển đổi đáng kể, không bị coi là lẩn trốn thuế. Tuy nhiên những năm gần đây, phía Hoa Kỳ thay đổi quan điểm. Việc sản xuất thép cán nguội, théo chống ăn mòn từ thép cán nóng nhập khẩu không được coi là chuyển đổi đáng kể.

Trong quá trình điều tra, Bộ Công Thương đã phối hợp với Hiệp hội Thép và các doanh nghiệp thép Việt Nam cung cấp thông tin đầy đủ với các cơ quan liên quan của Hoa Kỳ về quá trình sản xuất của Việt Nam cũng như mức độ giá trị gia tăng của sản phẩm. Bộ Công Thương cũng cảnh báo, khuyến nghị DN về việc cơ quan điều tra nước nhập khẩu có thể thay đổi và đưa ra những yêu cầu cao hơn trong quá trình điều tra chống lẩn tránh để doanh nghiệp nghiên cứu, điều chỉnh chiến lược kinh doanh, kể cả sử dụng nguyên liệu trong nước và các nguồn khác. Trong thời gian sắp tới, dự kiến kết luận chính thức sẽ được đưa ra sau 3 - 4 tháng và Bộ Thương mại Hoa Kỳ dự kiến đưa ra kết luận vào tháng 9. Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan theo sát vụ việc để bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, phù hợp với các quy định pháp luật và các quy định của WTO, đồng thời đồng thời ngăn chặn các hành vi lẩn tránh bất hợp pháp, gian lận xuất xứ.

- Phóng viên Huy Hoàng – Đài Truyền hình Việt Nam (VTV 24):

Bộ trưởng Bộ Công Thương vừa ký văn bản về cắt giảm điều kiện kinh doanh, cụ thể cắt giảm ở mảng nào, kết quả như thế nào?

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Trần Đỗ Quyên trả lời:

Nghị quyết 02/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 được ban hành từ ngày 01/1/2019, theo đó nhiệm vụ cụ thể được giao cho các Bộ, ngành công bố đầy đủ các điều kiện doanh đã được bãi bỏ, các điều kiện kinh doanh đã được đơn giản hóa trước đó trong năm 2018.

Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Bộ Công Thương từ năm 2018 đến nay đã triển khai trình Chính phủ ban hành các Nghị định về cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh như Nghị định số 08 năm 2018 và tiếp theo đó là 9 Nghị định về quản lý các ngành hàng. Từ giai đoạn đó đến nay Bộ Công Thương đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ.

Bộ trưởng Bộ Công Thương đã phê duyệt về việc đăng tải các điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ và sau buổi họp báo hôm nay chúng tôi sẽ phối hợp với Văn phòng Bộ để đăng tải công khai toàn bộ các điều kiện kinh doanh, bãi bỏ trên trang điện tử Bộ Công Thương.

Tiếp theo, đối với nội dung cắt giảm tập trung chủ yếu vào lĩnh vực: Điện, khí, xăng dầu, an toàn thực phẩm, hóa chất và kinh doanh xuất khẩu gạo…

Phương hướng trong thời gian tới, Bộ Công Thương đang dự kiến tiếp tục rà soát và đơn giản các thủ tục hành chính, các thủ tục đầu tư kinh doanh và dự kiến sang tháng 11 sẽ trình Chính phủ một Nghị định mới về đơn giản hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh trong các lĩnh vực như: An toàn thực phẩm, điện lực, hóa chất, kinh doanh bảo dưỡng bảo hành ô tô…

- Phóng viên Nguyễn Duyên – Truyền hình Quốc hội:

Trong văn bản trả lời Truyền hình Quốc hội lý do phán quyết vụ sát nhâp Grab, Uber ở Việt Nam khác với các nước khác là do luật cạnh tranh ở Việt Nam khác các nước. Vậy phải chăng Luật cạnh tranh ở Việt Nam còn nhiều kẽ hở, không bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh như các nước? Sau vụ này, Bộ Công Thương có kiến nghị Quốc hội sửa Luật cạnh tranh không?

Cục trưởng Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Nguyễn Sinh Nhật Tân trả lời:

Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng có chức năng điều tra, xem xét vụ việc cạnh tranh trong đó xem xét vấn đề Grab mua lại Uber. Trong quá trình điều tra chính thức và bổ sung, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã có báo cáo và kết luận điều tra liên quan, đã chuyển sang Hội đồng Cạnh tranh xử lý xem xét.

Về thẩm quyền, Luật Cạnh tranh năm 2004, quy định rõ việc nhận định, ra quyết định xử lý cạnh tranh của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng. Quyết định này mang tính chất độc lập, gồm 5 thành viên cạnh tranh nhìn nhận, báo cáo điều tra, xem xét và mở phiên điều trần kín để nghe các bên, bao gồm: Cơ quan điều tra (Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng), các bên liên quan đại diện Grab và Uber, có liên quan đến thương vụ sáp nhập Grab, Uber.

Trên cơ sở lắng nghe ý kiến tại phiên họp điều trần và các nội dung báo cáo, Hội đồng Cạnh tranh đã độc lập ra phán quyết, chính là kết quả bổ sung, quyết định xử lý cạnh tranh liên quan đến vụ Grab, Uber. Trong đó, nêu rõ khái niệm không chấp nhận đề nghị của cơ quan điều tra về hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục các biện pháp cạnh tranh, đối với các việc Grab, Uber. Do việc mua, bán, chuyển nhượng, tiếp nhận việc này không cấu thành theo hình thức mua lại doanh nghiệp được quy định theo Khoản 3, Điều 7 của Luật cạnh tranh năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết luật cạnh tranh. Quyết định này đi ngược kết luận điều tra của Cục Cạnh tranh và bảo vệ tiêu dùng. Điều này thể hiện rõ tính độc lập cao giữa 2 cơ quan Cục Cạnh tranh và bảo vệ tiêu dùng với vai trò thẩm định, điều tra, là nơi xem xét điều tra, tìm chứng cứ, còn thẩm quyền của Hội đồng Cạnh tranh chính là người xem xét quyết định. Trên cơ sở đó, Cục cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng trên cơ sở đánh giá lại tình hình đã có đơn khiếu nghị lại tình hình này, để Hội đồng Cạnh tranh xem xét lại. Quy trình này đều thực hiện theo đúng quy trình của Luật cạnh tranh. Các thông tin này đều có thông cáo báo chí đang tải trên website.

Liên quan đến phán quyết đặt ra, ông Nguyễn Sinh Nhật Tân cho rằng, phán quyết đặt ra hơi khác. Rõ ràng, hướng là không vi phạm, trong khi đó, các quốc gia khác như Singapore, Philippines có phán quyết về việc xử phạt và coi đó là vi phạm bên cạnh hành vi khác. Đây là câu chuyện về hành vi lạm dụng, vấn đề đặt ra đó là cách nhìn nhận quy định pháp luật của mỗi nước. Với các thể chế khác nhau, quy định khác nhau, pháp luật của một quốc gia không hoàn toàn thống nhất và y nguyên. Thứ 2 vấn đề này đặt ra dựa trên phán quyết, chưa thể kết luận và nhận định về hành vi và tình tiết điều tra, xem xét. Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng cho rằng, luôn luôn có chuyện bất đồng giữa cơ quan điều tra và Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng với Hội đòng cạnh tranh là người xem xét giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết định xử lý của Hội đồng cạnh tranh, hoàn toàn có quyền khiếu nại đến Hội đồng cạnh tranh, cơ quan 15 người để xử lý quyết định cạnh tranh này. Thậm chí các bên liên quan có quyền tiếp tục khiếu nại và khiếu kiện ra tòa án nếu không đồng tình với giải quyết quyết định. Đó là cả quy trình.

Trả lời câu hỏi phải chăng Luật cạnh tranh Việt Nam còn nhiều kẽ hở, không bảo vệ kinh doanh môi trường lành mạnh như các nước, ông Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, việc thỏa thuận mua bán sáp nhập đó là quyền của doanh nghiệp. Không thể coi nó là không lành mạnh được nhưng nó chỉ không lành mạnh khi có tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể trên thị trường.

Luật Cạnh tranh luôn tôn trọng quyền tự do của doanh nghiệp trong việc mua, bán sáp nhập nhưng chỉ đến mức độ nhất định thì mới bị xem xét và xử lý.

Đối với câu hỏi, sau việc này, Bộ Công Thương có kiến nghị quốc hội sửa đổi Luật Cạnh tranh không? Cục trưởng Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng thông tin, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh năm 2018 tại Phiên họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIV và từ ngày 1/7/2019, đã có hiệu lực. Luật Cạnh tranh mới năm 2018 có nhiều điểm mới, bổ sung, góp phần hoàn thiện và điều chỉnh hành vi phản cạnh tranh 1 cách linh hoạt nhất, đảm bảo góc độ xử lý về mặt kinh tế, kết hợp tư duy pháp lý, làm sao các chủ thể tham gia môi trường cạnh tranh, kinh doanh được đảm bảo nhất, hạn chế tối đa hành vi quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp.

- Phóng viên Ngọc An - Báo Tuổi trẻ:

Liên quan đến vụ việc Asanzo, tình trạng giả mạo hàng hóa rất nhiều, hành vi bóc nhãn mác, thay đổi nhãn mác đã được công ty này thực hiện. Được biết, Bộ đang soạn bộ thảo tiêu chuẩn về hàng Việt, hiện soạn thảo đến đến đâu và xin thông tin thêm nội dung cơ bản?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Việc này đã được Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính làm đầu mối vì Bộ Tài chính là cơ quan thường trực trong Ban chỉ đạo quốc gia chống gian lận thương mại buôn lậu (Ban chỉ đạo 389 Quốc gia). Bộ cũng sẽ phối hợp với các Bộ ngành để kiểm tra, xử lý, báo cáo Chính phủ. Hiện nay, Bộ Công Thương đang làm việc tích cực và phối hợp với Bộ Tài chính theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải trả lời:

Nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, ngăn chặn các hành vi gian lận, cạnh tranh không lành mạnh, ngày 14 tháng 4 năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2017/NĐ-CP (Nghị định 43) về nhãn hàng hóa. Nghị định quy định tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hàng hóa đều phải ghi nhãn cho hàng hóa (trừ một số trường hợp đặc biệt).

Điều 10 Nghị định 43 ghi rõ nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung gồm: tên hàng hóa; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; xuất xứ hàng hóa và các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa.

Điều 15 Nghị định 43 yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ đối với hàng hóa của mình, bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định của pháp luật về xuất xứ hàng hóa hoặc các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết.

Với việc tham gia rất nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), Việt Nam đã có nhiều quy định về việc xác định xuất xứ, các quy định nói trên nhằm nội luật hóa các cam kết quốc tế, do vậy các quy định xác định xuất xứ đó chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu để hưởng ưu đãi thuế quan theo cam kết, thể hiện qua việc được cấp C/O cho hàng xuất khẩu hoặc kiểm tra C/O với hàng nhập khẩu. Cho đến nay, chưa có quy định về xuất xứ cho hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nội địa.

Việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ chưa nói lên tỷ lệ xuất xứ Việt Nam. Ví dụ trong trường hợp thị trường ASEAN, chúng ta có khu vực tự do thương mại ASEAN và cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) Mẫu D. Quy định trong ASEAN là hàng hóa phải đáp ứng tỷ lệ 40% trở lên đối với hàm lượng giá trị khu vực. 40% này không phải có nghĩa là 40% sản xuất ở Việt Nam, mà trong đó có thể là có thể 10% ở Thái Lan, 10% từ Indonesia, 15% của Malaýia và chỉ có 5% của Việt Nam. Mặc dù tỷ lệ của Việt Nam rất ít, nhưng tỷ lệ cả khối trong ASEAN vẫn lớn, và chúng ta vẫn cấp được C/O Mẫu Đ. Đấy chính là mục đích của việc ký Hiệp định thương mại tự do nhằm khuyến khích tận dụng nguồn lực chung của các nước trong khu vực.

Hiện tượng gian lận thương mại thông qua ghi nhãn xuất xứ còn gây rối loạn thị trường khi hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài hoặc đặt gia công tại nước ngoài nhưng lại gắn mác “Made in Viet Nam” để đánh lừa người mua, người tiêu dùng. Một số trường hợp nông sản, thủy sản không rõ xuất xứ được bày bán trên thị trường dưới tên gọi của sản phẩm cùng loại Việt Nam như nho Ninh Thuận, khoai tây Đà Lạt, cá tầm Sa Pa, v.v... đã gây nên bức xúc đối với cộng đồng người tiêu dùng thời gian qua.

Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm đưa Nghị định 43 vào cuộc sống một cách thiết thực, Bộ Công Thương đã đề xuất xây dựng Thông tư quy định về ghi nhãn sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam và sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam. Sáng kiến này đã được Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ngành, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các Hiệp hội hết sức ủng hộ.

Đây là lần đầu tiên có quy định chi tiết về vấn đề ghi nhãn xuất xứ Việt Nam trên hàng hóa, Bộ Công Thương sẽ xin ý kiến rộng rãi các hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, hộ kinh doanh và người tiêu dùng đóng góp về dự thảo Thông tư.

Văn phòng Bộ


Tags:
Tin liên quan
THÔNG BÁO MỚI
1
2
3
Video
Xem toàn bộ