Giai đoạn 1975 - 1985

Xây dựng và phát triển Công nghiệp - Thương mại sau ngày Giải phóng miền Nam

A. Trong lĩnh vực công nghiệp

I. Đặc điểm tình hình và chủ trương phát triển công nghiệp

    Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và bước vào kỷ nguyên hoà bình xây dựng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn lịch sử mới, ngành Công nghiệp Việt Nam đứng trước những thuận lợi, khó khăn cũng như những nhiệm vụ nặng nề và đã đạt được những thành tựu nhất định.

    1.1. Thực trạng và những khó khăn

    1.1.1. Tình hình chung cả nước

    Đến năm 1976, toàn ngành công nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh với khoảng 52 vạn cán bộ, công nhân viên. Trong đó, miền Bắc có 1.279 xí nghiệp, miền Nam có 634 xí nghiệp, Trung ương quản lý 540 xí nghiệp, địa phương quản lý 1.373 xí nghiệp. Về tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc có 3.000 cơ sở chuyên nghiệp với trên 60 vạn lao động. Ở miền Nam có tới hàng chục vạn cơ sở tư nhân với 80 – 90 vạn lao động, nhưng phần lớn chưa được khôi phục lại. Kết quả sản xuất công nghiệp năm 1976 đạt giá trị tổng sản lượng tương đương 48 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1982). Trong đó, công nghiệp nhóm A chiếm 34,1% và nhóm B chiếm 65,9%; quốc doanh chiếm 62,7%, tiểu thủ công nghiệp 37,3% và công nghiệp trung ương 44,2%, công nghiệp địa phương 55,8%. Những ngành then chốt của công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng không lớn: năng lượng: 5,6%, luyện kim: 3,3%, cơ khí: 12,3%, hoá chất phân bón: 9,4%, vật liệu xây dựng: 6%. Công nghiệp nhóm B chỉ có lương thực và thực phẩm là ngành lớn nhất: 33,6%, dệt da may nhuộm: 14,5%. Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, công nghiệp chiếm tỷ trọng 10,6% lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4% tổng sản phẩm xã hội, 25,3% GDP và 53% giá trị sản lượng công nông nghiêp. Nguồn nguyên liệu phụ thuộc nước ngoài, các ngành lệ thuộc hoàn toàn là cơ khí, hoá chất, dệt… Thiết bị nhập từ nhiều nguồn, trong đó của 13 nước tư bản, chiếm 41%, của Liên Xô và Đông Âu 20%, trong nước chế tạo chỉ khoảng 13%. Về hiệu quả sản xuất, mức tích luỹ trên 1 đồng vốn tài sản cố định của công nghiệp trung ương là 0,25 đồng, hệ số tích luỹ của 100 đồng vốn sản xuất là 33%, song chưa đạt mức ổn định của thời kỳ 1964-1965 của miền Bắc và năm 1970 của miền Nam. Tình trạng không sử dụng hết công suất phổ biến, công nghiệp quốc doanh chỉ đạt 62%.

    1.1.2. Ở miền Bắc

    Sau 20 năm khôi phục, cải tạo, xây dựng và phát triển, đến cuối năm 1975, đã hình thành một nền công nghiệp tự chủ với cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường đáng kể. Cơ cấu công nghiệp đã phát triển hoàn chỉnh hơn, bao gồm các ngành công nghiệp nặng như điện, than, gang thép, chế tạo máy công cụ…; công nghiệp hoá chất đã sản xuất được xút, phân bón, thuốc trừ sâu…; công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm đã sản xuất được vải mặc, thuốc lá, đường mật, rượu, bia, đồ hộp… Sản xuất công nghiệp bao gồm các lực lượng quốc doanh trung ương, quốc doanh địa phương và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, cả công nghiệp nhóm A và công nghiệp nhóm B.

    Nếu xét về phát triển giá trị sản lượng công nghiệp, năm 1955 = 1 lần thì năm 1975 = 16,2 lần, trong đó quốc doanh = 44,8 lần và tiểu thủ công nghiệp = 5,6 lần, nhóm A = 27,1 lần và nhóm B = 12,3 lần, công nghiệp trung ương = 76 lần và công nghiệp địa phương = 9,2 lần. Tuy vậy, nền công nghiệp miền Bắc có những hạn chế đáng kể: các ngành công nghiệp nặng then chốt còn nhỏ yếu, phát triển thiếu đồng bộ, chưa đủ khả năng trang bị hiện đại hoá cho các ngành kinh tế quốc dân. Đặc biệt, công nghiệp phát triển chưa gắn bó phục vụ tốt cho nông nghiệp; sản xuất chưa ổn định, chưa có cơ sở nguyên liệu trong nước vững chắc; chưa tạo được tích luỹ và chưa có thị trường cho các sản phẩm của mình, nhất là công nghiệp nặng; trình độ quản lý còn thấp và chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hơn nữa cơ chế này lại bị chiến tranh kéo dài, làm cho sâu sắc thêm những nhược điểm cố hữu của nó.

    1.1.3. Ở miền Nam

    Có sự phát triển nhất định của công nghiệp, tuy nhiên còn nhỏ bé, thiếu cân đối, nhất là thiếu các ngành công nghiệp nặng. Công nghiệp miền Nam được hình thành và phát triển gắn với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ nên có những hạn chế: chiếm tỷ trọng không lớn, chỉ từ 8 - 10% tổng sản phẩm xã hội; phần lớn là các cơ sở công nghiệp nhỏ: 175 ngàn cơ sở với 1,4 triệu lao động và 800 triệu USD giá trị tài sản cố định, khoảng 1% cơ sở có quy mô từ 10 công nhân trở lên, còn lại là dưới 10 công nhân; công nghiệp nhẹ chiếm 90% giá trị sản lượng của toàn ngành, được tập trung vào các lĩnh vực như đồ uống, thực phẩm, thuốc lá, dệt may… Sản xuất công nghiệp phụ thuộc vào nước ngoài về trang thiết bị thay thế và nguyên liệu, khoảng 70 - 100% nguyên liệu là nhập khẩu. Từ sau 1970, hàng năm, công nghiệp miền Nam phải nhập 300 triệu USD nguyên liệu và 65 triệu USD thiết bị. Tuy nhiên, có một số cơ sở qui mô lớn, trang thiết bị khá hiện đại và năng suất cao, thiết bị có xuất xứ của Pháp, Mỹ, Đài Loan, Tây Đức… ví dụ như trong các ngành công nghiệp điện tử và cơ khí chính xác.

    1.2. Chủ trương phát triển công nghiệp

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tháng 12-1976 đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối phát triển công nghiệp nước ta trong giai đoạn mới như sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng”. Đại hội cũng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976-1980). Đây là kế hoạch triển khai xây dựng chủ nghĩa xã hội và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.

    Nhiệm vụ của công nghiệp trong kế hoạch 5 năm là: (1) tiếp tục thực hiện đường lối công nghiệp hoá và xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, hình thành cơ cấu kinh tế mới công - nông nghiệp; (2) khôi phục và phát triển sản xuất công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu trang thiết bị và các hàng hoá tiêu dùng cho nhân dân; (3) thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp miền Nam, thống nhất quản lý và tổ chức công nghiệp trong cả nước. Đồng thời phấn đấu thực hiện 10 mục tiêu mà Đại hội Đảng đề ra cho các ngành công nghiệp đến năm 1980 phải đạt: 1 triệu tấn cá biển, 10 triệu tấn than sạch, 5 tỷ kWh điện, 2 triệu tấn xi măng, 1,3 triệu tấn phân hoá học, 250 - 300 nghìn tấn thép, 3,5 triệu m3 gỗ, 450 triệu mét vải, 130 nghìn tấn giấy, sản lượng cơ khí tăng 2,5 lần so với năm 1975.

    Nhưng, sau những nỗ lực phát triển kinh tế theo đường lối công nghiệp hoá trên, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm, thậm chí vào cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ II những năm 1979-1980, sản xuất công nghiệp lâm vào trì trệ, suy thoái. Trước tình hình đó, Hội nghị trung ương 6 khoá IV năm 1979 đã chỉ ra những sai lầm trong lãnh đạo kinh tế, chủ yếu là quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp, chưa kết hợp kế hoạch với thị trường, chưa khai thác sử dụng các thành phần kinh tế tư sản dân tộc và cá thể ở miền Nam, chậm khắc phục trì trệ, bảo thủ trong xây dựng các chính sách cụ thể, trong đó có chính sách phát triển công nghiệp, có biểu hiện giản đơn trong cải tạo hội chủ nghĩa ở miền Nam.

    Những điểm mới trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp hoá trong giai đoạn 1981-1985 là: điều chỉnh mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ; trong cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp đã chú ý hơn tới các hình thức thích hợp; trong cải tiến quản lý công nghiệp đã có những cải tiến theo hướng mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp và các hợp tác xã. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế là chưa thấy được sự cần thiết xoá bỏ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Nói cách khác, mặc dù có một số điều chỉnh trong đường lối và chính sách, một số cải tiến về quản lý kinh tế, song về cơ bản, mô hình kinh tế và công nghiệp hoá của nước ta vẫn chưa thay đổi. Đường lối, chính sách kinh tế và công nghiệp hoá đã có tác động mạnh mẽ đến phát triển công nghiệp trong thời kỳ này.

    II. Tiếp quản và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp miền Nam

    2.1. Cải tạo công nghiệp

    Ở miền Bắc, sau khi chiến tranh kết thúc chúng ta phải tiếp tục khôi phục và nhanh chóng ổn định sản xuất cho các xí nghiệp bị đánh phá trong chiến tranh. Trong khi đó lại phải chia sẻ một lực lượng lớn về người, vật tư kỹ thuật cho việc tiếp quản và khôi phục sản xuất công nghiệp ở miền Nam mới giải phóng. Việc thống nhất tổ chức, quản lý công nghiệp cả nước cũng là yêu cầu cấp bách đặt ra. Đây là nhiệm vụ không dễ dàng, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy các năng lực công nghiệp, góp phần thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp miền Nam. Trong đó, vấn đề thành lập bộ máy nhà nước quản lý ngành công nghiệp miền Nam đã được tiến hành khẩn trương, ở các tỉnh thành miền Nam đã thành lập các Sở Công nghiệp với sự giúp đỡ về vật lực, người và chia sẻ kinh nghiệm của các Sở, ngành công nghiệp miền Bắc.

    Ở miền Nam, tuy có những năng lực sản xuất công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm khá quan trọng, nhưng việc khôi phục sản xuất không phải dễ dàng, vì công nghiệp miền Nam hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật và nguyên, vật liệu nhập khẩu. Sau ngày giải phóng, sản xuất công nghiệp miền Nam bị đình đốn, một phần vì thiếu nguyên vật liệu và phụ tùng thay thế, một phần do thái độ bất hợp tác của giai cấp tư sản đối với cải tạo. Do đó, chúng ta đề ra nhiệm vụ khẩn trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa công nghiệp miền Nam. Tuy nhiên, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam có khó khăn phức tạp hơn ở miền Bắc, vì giai cấp tư sản miền Nam có thực lực kinh tế và kinh nghiệm hoạt động. Miền Nam có khoảng 2 vạn nhà tư sản, gấp 10 lần ở miền Bắc trước đây và vốn liếng, tài sản của họ cũng lớn hơn nhiều.

    Ngày 04/9/1975 tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản miền Nam lần I. Ngày 15/7/1976, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 254/NQ/TW về những công tác trước mắt ở miền Nam, hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản, tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Tháng 12/1976, chúng ta tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần II. Tiếp theo, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 3/1977 quyết định hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh miền Nam trong 2 năm 1977-1978. Thực hiện chủ trương này, công cuộc cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam được tiến hành thông qua các hình thức sau:

- Quốc hữu hoá và chuyển thành xí nghiệp quốc doanh đối với các xí nghiệp công quản và xí nghiệp tư sản mại bản, tư bản bỏ chạy ra nước ngoài. Có 1.354 cơ sở với 13 vạn công nhân được quốc hữu hoá, bằng 34% số cơ sở và 55% số công nhân;

- Thành lập xí nghiệp công tư hợp doanh: 498 cơ sở với 13.000 công nhân, chiếm 14,5% số cơ sở và 5,5% số công nhân;

- Thành lập xí nghiệp hợp tác xã, gia công, đặt hàng: 1.600 cơ sở với trên 7 vạn công nhân, chiếm 45% về cơ sở và khoảng 30% về công nhân. Số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh còn lại chiếm khoảng 6% về cơ sở và 5% về công nhân, trong tổng số xí nghiệp công nghiệp tư doanh.

    Trong năm 1976, tư sản mại bản và tư sản lớn trong công nghiệp miền Nam bị xoá bỏ. Năm 1978, chúng ta tuyên bố hoàn thành căn bản cải tạo tư sản công nghiệp loại vừa và nhỏ ở miền Nam, trong đó có việc xoá bỏ sự lũng đoạn của tư sản người Hoa. Đến thág 5/1979, tất cả các xí nghiệp công quản lúc đầu ở miền Nam đều đã được chuyển thành xí nghiệp quốc doanh. Nhưng theo đánh giá, ta mới chỉ xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ trong công nghiệp mà chưa xác lập được quan hệ sản xuất mới trên thực tế. Thực chất, việc hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa công thương nghiệp miền Nam chỉ diễn ra hình thức.

    2.2. Cải tạo tiểu, thủ công nghiệp

    Ở miền Nam có hàng triệu thợ thủ công sống rộng khắp trong nông thôn và thành thị. Trong việc cải tạo tiểu thủ công nghiệp, Đảng ta chủ trương: “Đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và những ngành dịch vụ cần thiết cho xã hội, phải xắp xếp lại theo ngành dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuỳ theo đặc điểm của từng ngành nghề mà áp dụng những hình thức tổ chức và cải tạo thích hợp. Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp phải đưa đến kết quả phát triển sản xuất, giữ gìn và nâng cao kỹ thuật sản xuất làm phong phú mặt hàng và đảm bảo chất lượng sản phẩm”.

    Trong những năm 1977-1978, việc cải tạo các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp miền Nam đã được thực hiện. Tiểu thủ công nghiệp tại những vùng tập trung và trong những ngành quan trọng đã được tổ chức lại và có bộ phận được đưa vào hợp tác xã. Đã thành lập trên 500 hợp tác xã và 5.000 tổ hợp tác với trên 250 nghìn lao động. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có 144 hợp tác xã với 27.634 lao động và 1.964 tổ hợp tác với 75.284 lao động, chiếm 71% tổng số lao động thủ công nghiệp của Thành phố. Các tỉnh khác có số thợ thủ công được tổ chức lại chiếm khoảng 40%. Tới cuối năm 1985, số cơ sở tiểu thủ công nghiệp miền Nam đã có 2.937 hợp tác xã chuyên nghiệp, 10.124 tổ sản xuất chuyên nghiệp, 3.162 hợp tác xã nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 529 hợp tác xã kiêm và 920 hộ tư nhân cá thể.

    III. Cải tiến quản lý và tổ chức sản xuất trong công nghiệp

    Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đang áp dụng trong công nghiệp đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Các xí nghiệp quốc doanh không có quyền chủ động trong sản xuất vì phụ thuộc vào kế hoạch Nhà nước về vật tư, tài chính. Trong khi đó, nguồn lực bao cấp của Nhà nước ngày càng hạn chế do các nguồn viện trợ bị cắt giảm. Nếu chúng ta biết rằng, hàng năm trước đây, mỗi miền Nam - Bắc tiếp nhận viện trợ từ hai phe khoảng 1 tỷ rup - USD. Ngày 12/5/1975, trước tình hình khó khăn, ngay khi vừa chấm dứt chiến tranh, ta và Liên Xô ký hiệp định về việc Liên Xô viện trợ khẩn cấp không hoàn lại cho Việt Nam gồm xăng dầu, phân bón, lương thực, xe vận tải và nhiều loại hàng hoá tiêu dùng khác.

    Điều chủ yếu là Đảng phải có những biện pháp tháo gỡ và tìm lối thoát khỏi cơ chế cũ. Hội nghị trung ương lần thứ 6 khoá IV Ngày 26/9/1979 đề cập sự cần thiết quan tâm tới lợi ích vật chất của người lao động, tạo bước chuyển động trong sản xuất và đời sống, để cho sản xuất “bung ra”. Sau đó, ngày 21/1/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 25/CP về “Một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính cho các xí nghiệp quốc doanh”. Tiếp sau chính sách “khoán sản phẩm” nổi tiếng trong nông nghiệp, có thể coi Quyết định 25/CP là đánh dấu bước chuẩn bị, khởi đầu đổi mới chính sách và cơ chế quản lý nói chung và chính sách và cơ chế quản lý công nghiệp nói riêng. Nội dung của Quyết định này là tiến hành cải tiến công tác kế hoạch hoá của xí nghiệp quốc doanh. Theo tinh thần đổi mới, ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, khuyến khích xí nghiệp chủ động tiếp cận thị trường, đa dạng hoá sản xuất, phát triển thêm sản phẩm chính, sản phẩm phụ và dịch vụ công nghiệp. Kế hoạch mới sẽ gồm ba phần hay còn gọi “kế hoạch 3 phần”. Kế hoạch A: là kế hoạch với các chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước quyết định và được Nhà nước đảm bảo cung cấp các yếu tố đầu vào, sản phẩn làm ra phải bán cho Nhà nước theo giá quy định. Kế hoạch B: là kế hoạch do xí nghiệp tự lo vật tư để tận dụng khai thác các năng lực sản xuất của mình (như máy móc, nhà xưởng và lao động), sản phẩm làm ra phải bán cho Nhà nước, nhưng giá thành được tính theo giá mua vật tư, nên lợi nhuận định mức được tăng lên gấp 2 - 4 lần so với định mức lợi nhuận của kế hoạch A. Kế hoạch C: là kế hoạch sản xuất phụ, do xí nghiệp tự tổ chức làm thêm để tận dụng lao động và cải thiện thu nhập cho công nhân, không nằm trong nhiệm vụ sản xuất được giao, sản phẩm làm ra được quyền tiêu thụ trên thị trường. Cùng với Quyết định 25/CP, Hội đồng Chính phủ cũng ban hành Quyết định 26/CP ngày 21/1/1981 về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng các hình thức tiền thưởng trong các đơn vị kinh doanh của Nhà nước.

    Trên cơ sở phân tích và kết luận về tình hình thực hiện Quyết định 25/CP, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 146/HĐBT ngày 25/8/1982, nhằm sửa đổi và bổ sung Quyết định 25/CP, để phát huy mặt tích cực và kịp thời uốn nắn những lệch lạc phát sinh hay sự “bung ra” không đúng hướng trong quá trình thực hiện nghị quyết này. Các quyết định trên đã góp phần làm giảm bớt sự tập trung quan liêu bao cấp trong cơ chế quản lý nhà nước đối với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện cho sự “bung ra” mạnh mẽ của sản xuất. Điều quan trọng là từ đây đã gợi mở ra hướng đổi mới không chỉ trong công tác kế hoạch hoá, mà cả trong các lĩnh vực giá cả, lợi nhuận, các biện pháp khuyến khích vật chất trong cơ chế quản lý kinh kinh tế công nghiệp quốc doanh giai đoạn tiếp theo.

    Thời kỳ này, chúng ta đã tiến hành tổ chức lại sản xuất công nghiệp, thành lập nhiều công ty và liên hiệp xí nghiệp trong công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp vật liệu xây dựng. Việc ban hành Điều lệ Xí nghiệp mới có tác dụng mở rộng trách nhiệm, quyền hạn tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị cơ sở. Nhiều địa phương cũng đã giới thiệu mặt hàng mới và nơi giao dịch để các xí nghiệp có thể trao đổi vật tư, thiết bị thừa không dùng đến và biết được các khả năng hợp tác sản xuất của nhau.

    IV. Phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ II và III (1976- 1980 và 1981-1985)

    Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới vấn đề phát triển công nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Trong 10 năm 1975-1986, Nhà nước đã đầu tư vào ngành công nghiệp 65 tỷ đồng (tính theo giá 1982), chiếm trên 40% tổng vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất, tốc độ tăng đầu tư cho công nghiệp cao hơn mức tăng đầu tư bình quân của toàn bộ khu vực sản xuất vật chất. Trong đó, đầu tư cho nhóm A là trên 70% và nhóm B gần 30%.

    Trong thời kỳ này, nhiều công trình tương đối lớn được xây dựng như các nhà máy nhiệt điện Phả Lại, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Trị An; khu dầu khí Vũng Tầu; các nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Hà Tiên; nhà máy phân lân Lâm Thao; các nhà máy sợi Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang; các nhà máy đường Lam Sơn, La Ngà; các nhà máy giấy Bãi Bằng, Tân Mai... Giá trị tài sản ngành công nghiệp được tăng lên đáng kể: giai đoạn 1976 - 1980 tăng thêm 13 tỷ đồng, bằng 35% giá trị tài sản cố định mới tăng thêm thuộc khu vực sản xuất vật chất; giai đoạn 1981 - 1985 tăng 18,6 tỷ đồng, bằng 440 % tổng giá trị tài sản cố định thuộc khu vực này. Đồng thời, năng lực sản xuất mới của nhiều ngành công nghiệp cũng được nâng lên. Riêng thời kỳ 1981 - 1986, tăng thêm 456.000 kWh điện, 2,5 triệu tấn than, 2,1 triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, giấy 58.000 tấn, đặc biệt, dầu mỏ cũng bắt đầu được khai thác.

    Do kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam và đầu tư xây dựng mới của Nhà nước, số lượng cơ sở công nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh trong cả nước đã tăng thêm đáng kể, khoảng 1.000 cơ sở trong vòng 10 năm, từ 2.021 xí nghiệp năm 1976 lên 2.538 xí nghiệp năm 1980 và 3.220 xí nghiệp năm 1985. Trong đó, chủ yếu là các xí nghiệp nhóm A đã từ 1.076 năm 1976 tăng lên 1.458 năm 1980 và 1.851 cái năm 1985, xí nghiệp nhóm B đã từ 945 tăng lên 1.080 và 1.369 cái; năm 1985 số xí nghiệp do trung ương quản lý là 748 cái và địa phương quản lý là 2.472 cái. Ngành nhiều xí nghiệp nhất là lương thực, thực phẩm có 634 cái, địa phương nhiều xí nghiệp nhất là Hậu Giang có 164 cái.

    Số cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cả nước năm 1985 là 36.630 cái, tăng 18% so với năm 1980. Trong đó, hợp tác xã chuyên nghiệp là 5.641 cái, tổ sản xuất chuyên nghiệp là 12.622 cái, hợp tác xã nông nghiệp kiêm là 16.510 cái, hợp tác xã khác kiêm 937 cái, tư nhân, cá thể là 920 cơ sở. Số lao động công nghiệp đã từ 2,033 triệu người năm 1976 tăng lên 2,653 triệu người năm 1985. Trong đó, lao động quốc doanh và công tư hợp doanh là 774 ngàn người (trung ương 405 ngàn người, địa phương 369 ngàn người); lao động tiểu thủ công nghiệp là 1,88 triệu người (tập thể 1,2 triệu người, cá thể 680 ngàn người). Số cán bộ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ trong toàn ngành Công nghiệp năm 1982 là 70.000 người.

    Về sản xuất, tính chung cả thời kỳ 10 năm 1976-1985 thì sản xuất công nghiệp vẫn tăng lên, nhưng chia làm hai giai đoạn rõ rệt:

- Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976-1980), sản xuất công nghiệp phát triển đều trong 3 năm đầu, năm 1978 tăng cao nhất là 18% so với năm 1976. Sau đó tụt xuống và năm 1980 chỉ tăng 2,5% so với năm 1976. Tính cả thời kỳ, tốc độ tăng bình quân chỉ có 0,6%/năm. Do đó, tất cả các mục tiêu do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đề ra đều không đạt. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu công nghiệp của kế hoạch 5 lần II (1976-1980): giá trị sản lượng cơ khí đạt 80%; sản lượng điện là 3.680 triệu kWh, đạt 73,6%; than đạt 52%; khai thác gỗ tròn là 1,577 triệu m3, đạt 45%; vải mặc là 182 triệu mét, đạt 40,4%; đánh bắt cá biển là 399 ngàn tấn, đạt 39,9%; giấy, bìa là 48,3 ngàn tấn, đạt 37%; xi măng đạt 641 ngàn tấn, đạt 32%; phân bón hoá học 367 ngàn tấn, đạt 28%; sản lượng thép là 62,5 ngàn tấn, đạt 25%.

    Đặc biệt, sản xuất công nghiệp có những năm giảm sút tuyệt đối (năm 1977 tăng 10,8%, 1978 tăng 8,2%, 1979 giảm 4,7%, năm 1980 giảm 10,3%). Trong đó, công nghiệp trung ương giảm sút nhiều nhất, hàng năm giảm 4%, do thiếu nguyên, vật liệu. Trong khi đó, công nghiệp địa phương, nhất là tiểu thủ công nghiệp vẫn tiếp tục phát triển, hàng năm tăng 6,7%, nhờ có cơ chế linh hoạt và khai thác được các tiềm năng nguyên liệu tại chỗ.

    Tình trạng trên có nguyên nhân như: nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, năng suất thấp, chưa có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, trong khi nguồn lực viện trợ giảm dần, gặp khó khăn về cung ứng vật tư, nguyên liệu đầu vào cũng như chuyển đổi cơ chế hành chính quân liêu bao cấp, lại thêm chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc và sự cấm vận bên ngoài.

- Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981-1985): Sản xuất công nghiệp vượt qua thời kỳ suy thoái và khủng hoảng, bắt đầu có bước phát triển đều đặn, rõ ràng, năm sau cao hơn năm trước. Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1983 đã vượt năm 1977 (năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch 5 năm trước), năm 1984 đã vượt 20% so năm 1977. Đến năm 1985, toàn ngành Công nghiệp đã sản xuất được 105 tỷ đồng giá trị sản lượng, tăng trên 61,3% so với năm 1976 và 57,4% so với năm 1980. Trong thời kỳ 1981-1985, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 9,5%, trong đó nhóm A tăng 6,4% và nhóm B tăng 11,2%, công nghiệp trung ương tăng 7,8% và địa phương tăng 10,4%, tiểu thủ công nghiệp tăng 11,4%. Cơ cấu công nghiệp thay đổi như sau: nhóm A/B năm 1980 là 37,8%/62,2% và năm 1985 là 31,4%/68,6%; công nghiệp quốc doanh/ngoài quốc doanh năm 1980 là 60,2%/39,8% và năm 1985 là 56,3%/43,7%9. Cơ cấu ngành công nghiệp cũng có những biến đổi nhất định (xem bảng dưới đây).

    Tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong thời kỳ kế hoạch 5 lần thứ III đã khá hơn, một phần do các chỉ tiêu này đã được điều chỉnh thấp hơn.

    Vào năm 1985, một số chỉ tiêu sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính bình quân đầu người đạt như sau: điện phát ra 87,2 kWh, so với 62,7 kWh (1976); than sạch đạt 93,9 kg, so với 115 kg (1976); xi măng đạt 25,1 kg, so với 15,1 kg (1976); gạch đạt 49 viên, so với 75 viên (1976); gỗ tròn đạt 0,024 m3, so với 0,031 m3 (1976); giấy đạt 1,31 kg, so với 1,53 kg (1976); muối ăn đạt 11,2 kg, so với 11,9 kg (1976); cá biển đạt 10,5 kg, so với 12,3 kg (1976); đường mật đạt 6,7 kg, so với 1,5 kg (1976); vải lụa đạt 6,2 mét, so với 4,5 mét (1976).

    Có thể coi đây là kết quả của những cải tiến quản lý trong khu vực công nghiệp quốc doanh theo tinh thần Quyết định 25/CP, và Quyết định 146/HĐBT làm cho các xí nghiệp quốc doanh trở nên năng động, sản xuất công nghiệp được “bung ra”, cơ cấu công nghiệp được điều chỉnh theo hướng đẩy mạnh hơn các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng. Mặt khác, do một số công trình xây dựng qui mô trong giai đoạn 1976 - 1980 đã đi vào sản xuất, cung cấp các sản phẩm cho nền kinh tế.

    Như vậy, trong thời gian 10 năm sau khi nước nhà thống nhất, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn về thiên tai địch họa và hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh, ngành Công nghiệp nước ta đã được tăng cường lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và phát triển sản xuất. Đến năm 1985, toàn ngành Công nghiệp có 3.220 xí nghiệp quốc doanh, 36.630 cơ sở tiểu thủ công nghiệp với 2,653 triệu lao động, đã sản xuất được 105 tỷ đồng giá trị tổng sản lượng, làm ra 30% thu nhập quốc dân, 40% tổng sản phẩm xã hội và trên 50% giá trị sản lượng công - nông nghiệp, góp phần nhất định vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ mới.

    V. Khôi phục và phát triển các ngành công nghiệp

    Ngành Cơ khí: Đã tiến hành một bước việc tổ chức và sắp xếp lại và phân công sản xuất trong toàn quốc theo hướng chuyên môn hoá, kết hợp năng lực cơ khí của quốc doanh trung ương với cơ khí địa phương, cơ khí quốc phòng, cơ khí hợp tác xã và lực lượng cơ khí tư nhân. Nhiều sản phẩm cơ khí đã giảm được chi phí sản xuất và có chất lượng tốt hơn, vì các chi tiết và bộ phận được chế tạo hàng loạt ở các xí nghiệp khác nhau theo nguyên tắc chuyên môn hoá sản xuất.

    Việc bổ sung thiết bị, cải tạo mở rộng nhiều nhà máy cơ khí của các ngành, việc xây dựng mới các cơ sở cơ khí phục vụ nông nghiệp ở các tỉnh và huyện miền Nam, các xưởng bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, tầu, thuyền đánh cá, đã tăng thêm năng lực cơ khí ngành và cơ khí địa phương. Chúng ta cũng hoàn thành xây dựng và đưa vào sản xuất toàn bộ hoặc từng phần Nhà máy Cơ khí Hà Nội mở rộng, cụm cơ khí Gò Đầm, Nhà máy Cơ khí trung tâm Cẩm Phả, Nhà máy Khí cụ điện, Nhà máy Xe đạp Xuân Hoà, các nhà máy sửa chữa xe máy, thiết bị dụng cụ, 4 nhà máy cơ khí tỉnh...

    Các sản phẩm chủ yếu của ngành Cơ khí được sản xuất hàng loạt để phục vụ nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm này là thiết bị toàn bộ cho xưởng cơ khí huyện, máy kéo bông sen, máy công tác theo sau máy kéo, máy bơm thuỷ lợi, tàu hút bùn, bơm thuốc trừ sâu, xe cải tiến, công cụ cầm tay trong nông, lâm, ngư nghiệp, tầu đánh cá, trong đó có loại tầu 400 sức ngựa, xà lan, rơ moóc, toa xe lửa, phụ tùng ô tô, máy kéo... cũng tăng lên với tốc độ cao.

    Để phục vụ cho xây dựng cơ bản và sản xuất vật liệu xây dựng, ta đã sản xuất được thiết bị toàn bộ cho các nhà máy xi măng công suất 5.000 - 10.000 - 20.000 tấn/năm, các nhà máy gạch 7 - 20 triệu viên/năm, sản xuất hàng loạt máy trộn bê tông, máy trộn vữa... Việc sản xuất máy móc, công cụ cho công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm cũng được đẩy mạnh với việc sản xuất hàng loạt thiết bị toàn bộ cho các nhà máy đường, nhà máy xay xát gạo, nhà máy chế biến màu, nhà máy giấy, nhà máy dệt, xưởng thuỷ tinh... của công nghiệp địa phương. Các máy móc thông dụng như động cơ đieden, động cơ điện, máy biến thế, máy cắt gọt kim loại... hàng năm đều tăng với nhịp độ cao từ 30 - 60%. Chúng ta đã bắt đầu sản xuất được một số linh kiện điện tử để lắp ráp và sửa chữa các thiết bị điện tử.

    Công nghiệp năng lượng cũng phát triển với tốc độ cao. Ngành điện đã tăng thêm công suất nhờ huy động thêm các máy phát của các ngành và địa phương, thực hiện các biện pháp cải tiến kỹ thuật. Việc xây dựng các cụm phát điện mới và hệ thống truyền tải điện phục vụ thuỷ lợi ở đồng bằng sông Cửu Long được hoàn thành và phát huy tác dụng. Ta bắt đầu xây dựng các nhà máy Thuỷ điện Sông Đà, Nhiệt điện Phả Lại.

    Ngành Than đã khôi phục xong các mỏ bị đánh phá, trang bị thêm nhiều máy móc thiết bị khai thác, vận chuyển và chế biến than hiện đại. Do nhu cầu về than rất lớn nên ta đã xây dựng thêm nhiều mỏ nhỏ để đưa nhanh vào sản xuất ở các địa phương. Việc xây dựng các mỏ than lớn có công suất 1-3 triệu tấn/năm cũng được tiến hành khẩn trương, để có thể đưa vào sản xuất từng phần bắt đầu từ cuối của kế hoạch 5 năm lần II (1976 - 1980).

    Công nghiệp vật liệu, nguyên liệu, trước hết là sản xuất thép, hoá chất và vật liệu xây dựng cũng được chú ý phát triển. Các lò cao của khu Gang thép Thái Nguyên đã khôi phục xong, các xưởng cán thép Lưu Xá, Gia Sàng đã lắp đặt xong thiết bị và đi vào sản xuất, các xưởng cán thép miền Nam đã được khôi phục và đi vào sản xuất. Nhiều nhà máy cơ khí được trang bị thêm để sản xuất thép đúc và thép hợp kim. Sản xuất thiếc, crôm đều tăng hơn trước.

    Trong công nghiệp hoá chất, sản lượng các loại phân bón hoá học được tăng lên nhiều nhờ mở rộng Nhà máy Supe Lâm Thao, hoàn thiện dây chuyền sản xuất nhà máy phân lân ở các tỉnh. Nhiều huyện đã mở rộng sản xuất vôi để cải tạo đất. Ngành chế biến cao su cũng được tăng thêm năng lực sản xuất để mở rộng chế tạo săm lốp ô tô, xe đạp, các mặt hàng cao su. Công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp nhiều nơi đã sản xuất được xà phòng, keo dán, phèn chua, mực in, thuốc bảo quản gỗ và các hoá chất thông thường.

    Trong công nghiệp vật liệu xây dựng đã hoàn thành việc mở rộng Nhà máy Xi măng Hải Phòng, khôi phục Nhà máy Xi măng Hà Tiên, xây dựng và đưa vào sản xuất nhiều nhà máy xi măng địa phương. Việc xây dựng các nhà máy xi măng lớn như Hoàng Thạch, Bỉm Sơn cũng được xúc tiến và dự kiến đưa vào sản xuất 1-2 năm tới; sản xuất gạch ngói được phát triển mạnh với việc xây dựng và đưa vào sản xuất nhiều nhà máy gạch công suất 7 triệu viên/năm, 20 triệu viên/năm. Nhà máy gạch chịu lửa 10.000 tấn/năm đã đi vào sản xuất. Nhiều nhà máy bê tông đúc sẵn, nhà máy ván ép cũng đã xây dựng xong. Trong công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp cũng phát triển việc sản xuất vôi, gạch ngói và các loại vật liệu khác...

    Việc sản xuất hàng tiêu dùng được phát triển theo hướng chuyển mạnh sang sử dụng các sản phẩm của nông, lâm, ngư nghiệp và các loại nguyên liệu, vật liệu trong nước kể cả tận dụng phế liệu, phế phẩm, giảm bớt nhập khẩu. Đồng thời, chúng ta cũng phát triển công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp, thực hiện khai thác nguồn nguyên liệu địa phương và xuất khẩu. Trong công nghiệp thực phẩm, nhiều tỉnh và huyện đã xây dựng các nhà máy xay xát gạo công suất 15 - 30 tấn bằng thiết bị trong nước. Nhiều xưởng chế biến hoa màu được xây dựng ở các địa phương có nhiều ngô, khoai, sắn... Các thành phố và trung tâm công nghiệp đựợc tăng thêm năng lực sản xuất mì sợi, bánh mì. Công nghiệp đường cũng phát triển hơn trước, nhờ đưa vào sản xuất nhiều cơ sở đường địa phương công suất 50 - 100 tấn mía/ngày. Để tận đụng nguyên liệu, các nhà máy đang bổ sung thiết bị để trở thành những xí nghiệp liên hợp đường - rượu - giấy. Công nghiệp chè, thuốc lá, dầu thực vật, mì chính, đồ hộp, đông lạnh... đều phát triển với tốc độ cao, đặc biệt với các sản phẩm xuất khẩu như chè, thuốc lá, tôm cá đóng hộp đông lạnh, có nhiều mặt hàng tăng gấp 2 - 3 lần. Công nghiệp thực phẩm được bổ sung nhiều máy móc, thiết bị hiện đại. Trong khu vực tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển chế biến thực phẩm theo kỹ thuật truyền thống bằng các nguyên liệu nông sản địa phương nhằm phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của nhân dân.

    Ngành Dệt đã tăng thêm công suất nhờ việc đưa vào sản xuất liên hợp dệt Vĩnh Phú, cải tạo và tổ chức lại lực lượng dệt của tư nhân ở miền Nam và khôi phục nghề dệt thủ công truyền thống, đưa công suất dệt vải lên tới 400 triệu mét/năm. Các cơ sở dệt kim, dệt lụa, thảm len, dệt đay và thảm đay... cũng được mở rộng. Các nghề cói, may mặc, thêu ren... đều phát triển. Chúng ta đã khẩn trương xây dựng thêm các nhà máy kéo sợi bông, sợi đay và đổi mới trang thiết bị máy móc ở nhiều nhà máy dệt và các cơ sở dệt thủ công. Công nghiệp giấy và chế biến gỗ đã được tăng thêm năng lực sản xuất nhờ khôi phục lại nhiều cơ sở sản xuất ở miền Nam, xúc tiến việc xây lắp Nhà máy Giấy Bãi Bằng ở Vĩnh Phú, phát triển nhiều cơ sở nhỏ ở địa phương để sản xuất giấy từ bã mía, đay, rơm rạ... Các nhà máy gia công gỗ xẻ, gỗ ván sàn, gỗ dán và ván ép được trang bị thêm; đã đưa thêm được 3 nhà máy mới vào sản xuất. Công nghiệp đồ sứ và thuỷ tinh đã phát triển theo hướng mở rộng cơ sở nguyên liệu và xây dựng thêm các cơ sở vừa và nhỏ ở các tỉnh và huyện, các cơ sở sản xuất đồ thuỷ tinh cỡ vừa ở các tỉnh ven biển. Đã đưa vào sản xuất xí nghiệp men sứ Hải Dương, xí nghiệp khai thác cao lanh Vĩnh Phú, Lào Cai, Lâm Đồng; hoàn thành xây dựng nhà máy thuỷ tinh Hải Hưng, mở rộng các nhà máy Rạng Đông, nhà máy phích nước thành phố Hồ Chí Minh.

    Trong công nghiệp nhẹ, đã chú ý đẩy mạnh việc sản xuất hàng tiêu dùng có nhu cầu phổ thông. Đã tăng thêm năng lực sản xuất xe đạp và phụ tùng xe đạp, quạt điện và bóng đèn điện, máy may, đồng hồ, máy thu thanh và thu hình, đồ dùng học tập và đồ chơi trẻ em…

B. Trong lĩnh vực thương mại

    I. Thương mại thời kỳ thống nhất đất nước đến đầu công cuộc đổi mới (1975- 1979)

    1.1. Cải tạo thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam

    Thị trường miền Nam trước giải phóng mang tính chất thị trường tư bản chủ nghĩa và tương đối phát triển, có quan hệ gắn bó với nhiều nước tư bản thế giới và khu vực. Tư sản mại bản là thế lực phản động nhất trong giai cấp tư sản ở miền Nam, có lợi ích gắn bó với chủ nghĩa đế quốc, hoạt động kinh doanh làm giàu, lũng đoạn thị trường và phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Mỹ - Ngụy. Hệ thống độc quyền lũng đoạn thị trường của tư sản mại bản được tổ chức tinh vi và chặt chẽ trong các khâu trọng yếu: Từ xuất, nhập khẩu, thu mua nguyên liệu, sản xuất, chế biến, vận chuyển đến nắm quyền bán buôn, khống chế bán lẻ hoặc ít nhất cũng nắm độc quyền làm tổng đại lý tiêu thụ hàng hoá, chi phối tư sản thương nghiệp và lực lượng tiểu thương làm mạng lưới tiêu thụ bán lẻ cho chúng. Giai cấp tư sản mại bản do nắm giữ một khối lượng lớn tài sản và hàng hoá trong tay nên vẫn tiếp tục thao túng thị trường miền Nam sau ngày giải phóng, gây ra những vụ đầu cơ, làm ăn phi pháp, làm mất ổn định đời sống kinh tế - xã hội. Tình hình đó đòi hỏi phải nhanh chóng xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản. Chủ trương đó là hoàn toàn đúng đắn và đã được Nhà nước ta thi hành ở các thành phố lớn miền Nam vào những tháng cuối năm 1975 và năm 1976.

    Thời gian đầu sau giải phóng, thị trường miền Nam lưu hành 3 loại tiền khác nhau: tiền của chế độ Sài Gòn cũ, tiền của Chính phủ cách mạng lâm thời và tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Lúc đầu, Nhà nước chủ trương tạm thời hạn chế việc buôn bán giữa hai miền. Đến năm 1976, nhu cầu giao lưu hàng hoá giữa 2 miền Nam - Bắc ngày càng tăng lên, quan hệ đó đòi hỏi phải được mở rộng. Vì vậy, những hạn chế buôn bán ban đầu đã được Nhà nước xoá bỏ dần trong thời gian sau đó.

    Từ hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang hoà bình, nhu cầu về tiêu dùng của các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng khác trước về cơ bản. Điều đó đòi hỏi hoạt động của thương mại phải có sự thích ứng nhanh chóng với điều kiện mới của thị trường, mở rộng kinh doanh với những phương thức tiến bộ, hàng hoá phong phú với chất lượng bảo đảm.

    Ngay sau giải phóng, hàng vạn cán bộ ngành Thương mại, bao gồm Nội thương, Ngoại thương và Vật tư đã được điều động cho miền Nam. Trong đó có nhiều cán bộ cốt cán đã được giao nhiệm vụ khẩn trương xây dựng khung các cơ quan quản lý cấp Sở, Ty để vào tiếp quản và xây dựng mạng lưới thương mại ở các thành phố, các tỉnh phía Nam. Tháng 5/1975, Tổng Nha Nội thương ra đời và ngày 26/5/1975 thành lập Sở Thương nghiệp thành phố Sài Gòn mới giải phóng. Tiếp sau đó là các Sở Thương nghiệp của các tỉnh, thành phố khác cũng được thành lập. Đến cuối năm 1976, đã thành lập được 2 tổng công ty và 10 công ty thương nghiệp bán buôn toàn miền Nam, gần 60 công ty thương nghiệp tỉnh với trên 500 cửa hàng. Giao lưu hàng hoá giữa 2 miền Nam – Bắc dần được khai thông và không ngừng phát triển.

    1.2. Nội thương và ngoại thương từng bước phát triển

    Lực lượng thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng và lực lượng hợp tác xã tuy mới thời kỳ đầu xây dựng, nhưng đã từng bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường, nhờ đó đã hạn chế được ở mức độ nhất định nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạng hỗn loạn giá cả thị trường.

    Cũng cần nhớ lại rằng, những năm đầu sau giải phóng, công tác phân phối lưu thông gặp rất nhiều khó khăn. Thương nghiệp quốc doanh tuy phát triển nhanh, nhưng còn yếu. Chưa có nhiều hàng hoá, kể cả hàng nông sản - thực phẩm và hàng công nghiệp tiêu dùng. Phương thức mua vào, bán ra còn lúng túng, gò bó. Các tổ chức thương nghiệp hợp tác xã đang thời kỳ đầu xây dựng, chưa đủ sức hỗ trợ cho thương nghiệp quốc doanh thu mua nắm nguồn hàng, phân phối bán lẻ và chi phối thị trường. Việc tổ chức quản lý thương nghiệp tư nhân còn bị buông lỏng. Việc theo dõi nắm tình hình thị trường chưa cụ thể và sát sao, do đó chưa kịp thời đối phó và ngăn chặn được các thủ đoạn phi pháp của bọn gian thương.

    Đầu năm 1978, Nhà nước thực hiện việc đổi tiền lần thứ 2 để thống nhất tiền tệ trong cả nước, tạo tiền đề thống nhất thị trường hai miền và công tác lãnh đạo hoạt động thương mại trong cả nước cùng có điều kiện tập trung thống nhất từ Trung ương. Thương nghiệp quốc doanh đã từng bước vươn lên dành lấy vị trí chủ đạo. Giao lưu hàng hoá giữa hai miền không ngừng được tăng cường và bổ sung cho nhau, mỗi năm càng thêm phát triển.

    Hoạt động buôn bán đối ngoại trong bối cảnh đất nước thống nhất cũng có những thuận lợi mới. Từ đó, chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác tiềm năng của cả nước về thiên nhiên cũng như lao động để đẩy mạnh xuất nhập khẩu.

    Những năm 1976-1978, tình hình kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thương nói riêng diễn ra tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, từ cuối năm 1978 trở về sau, tình hình diễn biến có nhiều khó khăn phức tạp. Mỹ và một số nước khác đã có thái độ thù địch với nhân dân ta, thực hiện chính sách cấm vận, phân biệt đối xử. Họ ngừng viện trợ và đầu tư vào Việt Nam, ngừng các khoản tín dụng đã cam kết, thậm chí có nước có hành vi phá hoại nền kinh tế của nước ta. Trong lúc đó lại xảy ra cuộc chiến tranh ở biên giới Tây - Nam và phía Bắc, làm cho đất nước ở trong tình trạng vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh, gây khó khăn và mất cân đối nhiều mặt cho nền kinh tế. Thị trường biến động, giá cả hàng hoá tăng nhanh. Bên cạnh đó, quản lý kinh tế cũng như quản lý thương mại vẫn giữ cung cách của thời kỳ chiến tranh, mang nặng tính chất quan liêu bao cấp, tỏ ra kém hiệu quả.

    Mặc dù gặp nhiều khó khăn to lớn từ phía khách quan cũng như chủ quan, song điều đó cũng không hoàn toàn cản trở nền kinh tế của ta phát triển.

    Năm 1977-1978, hai năm liền nông nghiệp cả 2 miền gặp thiên tai nặng nề, công tác thu mua nắm nguồn hàng của thương mại không đạt yêu cầu. Công nghiệp thiếu nguyên liệu, vật tư, nhiên liệu. Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 2 (1976- 1980) đạt mức thấp, quỹ hàng hoá của Nhà nước không đáp ứng nhu cầu, nhiều mặt hàng thiết yếu chỉ bảo đảm cung cấp được khoảng 50% tiêu chuẩn định lượng được phân phối bằng tem phiếu. Trong điều kiện thiếu hàng như vậy, ngành Thương mại đã cố gắng tập trung được một lượng hàng cần thiết để ưu tiên cung cấp cho khu vực trực tiếp sản xuất, phục vụ lực lượng chiến đấu, một phần cho cán bộ công nhân viên.

    Ở miền Nam, số người làm nghề bán buôn và dịch vụ tăng nhanh. Tư thương nắm quyền chi phối nhiều loại hàng hoá tiêu dùng. Nhìn chung, vào thời điểm đó, thương nghiệp quốc doanh đã không làm chủ được thị trường hàng nông sản – thực phẩm.

    Đối với hàng tiêu dùng bán lẻ cung cấp, thương nghiệp quốc doanh đã trở thành kho hàng phân phối theo định lượng, ngân sách phải bù lỗ nặng nề. Giá hàng công nghiệp cũng để bất động kéo dài, nhất là hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất. Mức giá trong nước đối với hàng nhập khẩu không bù được giá vốn. Cơ chế thu bù chênh lệch ngoại thương đã làm cho ngân sách Nhà nước bù lỗ xuất khẩu ngày một tăng lên.

    Hoạt động xuất nhập khẩu trì trệ, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng nề kéo dài. Hoạt động xuất nhập khẩu theo cơ chế kế hoạch tập trung, Nhà nước độc quyền ngoại thương, thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa với cơ chế nghị định thư. Cả nước chỉ có khoảng 30 đơn vị, công ty nhà nước hoạt động xuất, nhập khẩu, với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu rất thấp (bình quân xuất khẩu theo đầu người chỉ ở mức dưới 10 Rúp/USD, trong đó 70% kim ngạch xuất khẩu thuộc khu vực đồng Rúp). Vì vậy luôn gây sức ép phải hạn chế các nhu cầu nhập khẩu thiết bị, vật tư nguyên liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu cho phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, mà ở thời kỳ này, hầu hết các mặt hàng cung ứng cho thị trường trong nước phải thông qua nhập khẩu. Cân đối tiền – hàng và cung – cầu một số mặt hàng thiết yếu bị mất cân đối nghiêm trọng.

    Trong hệ thống kế hoạch pháp lệnh, cơ chế kết hối ngoại tệ được thực hiện theo giá kết toán nội bộ với giá trị của đồng Việt Nam cao gấp nhiều lần so với giá trị thực; sự xơ cứng trong việc định giá vật tư, nguyên liệu, hàng hoá xuất, nhập khẩu; các tổng công ty xuất nhập khẩu được phân công theo ngành hàng không gắn nhập khẩu với xuất khẩu; ngân sách hàng năm phải chi ra một khoản tiền lớn để bù lỗ cho hoạt động xuất, nhập khẩu.

    Trên bình diện quốc tế, từ cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thế giới diễn ra những biến đổi to lớn. Trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, xu thế toàn cầu hoá kinh tế, chạy đua về kinh tế, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản có nhiều diễn biến phức tạp. Điều đó đã đặt hệ thống xã hội chủ nghĩa trước những thách thức mới. Việc vượt qua thách thức đó lại diễn ra trong bối cảnh hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa, tuy cũng phải đối phó với những nguy cơ mới, nhưng do có sự điều chỉnh cần thiết, đặc biệt là đã sử dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên đã vượt qua được khó khăn, kinh tế có bước tăng trưởng đáng kể.

    Với bối cảnh trong nước và quốc tế như trên, đòi hỏi tất yếu muốn tồn tại và phát triển thì phải có một cuộc cải cách thật sự trên tất cả các lĩnh vực của đất nước. Đó chính là đường lối Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng tại Đại hội lần thứ VI tháng 12/1986.

    II. Thương mại Việt Nam trong thời kỳ tiền đổi mới (1979-1986)

    Có thể coi Hội nghị trung ương 6 khoá IV (tháng 8/1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới ở nước ta. Hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế; phá bỏ rào cản, mở đường cho sản xuất phát triển; ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao, hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình); sửa lại thuế lương thực, giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại hệ thống phân phối trong hệ thống hợp tác xã nông nghiệp, bỏ phân phối theo định suất, định lượng để khuyến khích tính tích cực của người lao động… Trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, điều chỉnh một số chính sách không còn phù hợp; cải tiến các chính sách lưu thông, phân phối (giá, lương, tiền, tài chính, ngân hàng); đổi mới công tác kế hoạch hoá, kết hợp với thị trường; kết hợp 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể, cá nhân người lao động.

    Những chủ trương đó nhanh chóng được nhân dân trong cả nước đón nhận và biến thành hành động thực tế trong thực tiễn cuộc sống. Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, có địa phương đã thực hiện thí điểm mô hình theo cơ chế: “mua cao, bán cao” thay cho “mua cung, bán cấp”; bù giá vào lương; được phép thí điểm hình thức khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã ra đời.

    Trên lĩnh vực công nghiệp, bước đầu xác định quyền tự chủ của cơ sở trong sản xuất, kinh doanh, với chủ trương “ba phần kế hoạch” (phần Nhà nước giao có vật tư bảo đảm, phần Xí nghiệp tự làm, phần sản phẩm phụ) theo Quyết định 25/CP, ngày 21/01/1981 của Hội đồng Chính phủ, cùng với Quyết định 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh được áp dụng.

    Trên lĩnh vực cải tạo xã hội chủ nghĩa, vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế đã được đặt ra; từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức sản xuất thích hợp; chính sách đối với kinh tế cá thể từng bước được điều chỉnh cho đúng thực tế hơn; nhấn mạnh chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, mệnh lệnh, làm ồ ạt, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống.

    Tuy nhiên, do những khó khăn bởi chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam xảy ra, do thiếu đồng bộ của tư tưởng đổi mới và chưa đủ thời gian để những chủ trương đổi mới phát huy tác dụng, trong khi đó, nhiều chỉ tiêu cơ bản do Đại hội IV đưa ra lại quá cao so với thực tế, nên không thực hiện được. Nền kinh tế tiếp tục ở trạng thái trì trệ, sa sút; đời sống nhân dân có nhiều khó khăn.    

    Trước những khó khăn về kinh tế và đời sống, cũng vẫn có khuynh hướng muốn quay lại với quan niệm và cách làm cũ. Hội nghị Trung ương 5 khoá V (12/1983) vẫn xem sự chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân của tình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội, và chủ trương phải đẩy mạnh hơn nữa việc cải tạo xã hội chủ nghĩa; Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xoá bỏ thị trường tự do về lương thực và các nông, hải sản quan trọng; thống nhất quản lý giá; bảo đảm cung cấp đủ 9 mặt hàng theo đúng định lượng cho người ăn lương; lập các cửa hàng cung cấp… Điều này cho thấy, sự đổi mới tư duy là không đơn giản; quan niệm cũ về cải tạo xã hội chủ nghĩa còn ăn sâu, bám rễ vào nhiều người. Trên thực tế, khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày một nghiêm trọng, đời sống nhân dân, nhất là người làm công ăn lương ngày càng khó khăn.

    Hội nghị trung ương 8 khoá V (6/1985) đánh dấu bước đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

    Tháng 9/1985, cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền được thực hiện. Do vẫn còn tư tưởng chủ quan duy ý chí, cuộc tổng điều chỉnh này đã làm cho “giá cả thị trường có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến nhiều hoạt động kinh tế - xã hội”. Lạm phát bị đẩy lên tốc độ phi mã. Sự chênh lệch giữa giá và lương, giữa lương danh nghĩa và lương thực tế quá lớn. Chính vì vậy, đầu năm 1986, lại phải lùi một bước: thực hiện chính sách 2 giá. Trên mặt trận phân phối, lưu thông, lạm phát vẫn ở mức 3 con số trong nhiều năm, đỉnh cao là 774,7% năm 1986. Lưu thông tiền tệ cuối năm 1984 bằng 8,4 lần cuối năm 1980.

    Tháng 8/1986, trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI, Bộ Chính trị đã xem xét kỹ các vấn đề lớn, mang tính bao trùm trên lĩnh vực kinh tế. Trong đó xác định: trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hoá - tiền tệ, kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá. Đây là bước đột phá thứ ba, có ý nghĩa lớn trong đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội.

    Có thể nói, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) là Đại hội mang tính lịch sử, tạo ra bước ngoặt cực kỳ quan trọng cho đất nước. Tại Đại hội này, Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện, bao gồm đổi mới tư duy, đối mới tổ chức - cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đã đề ra ba Chương trình kinh tế lớn là lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đó là mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới; đồng thời chủ trương kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới, áp dụng những biện pháp kích thích sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hoá, xoá bỏ tình trạng ngăn sông, cấm chợ, chia cắt thị trường; lập lại trật tự kỷ cương; giữ ổn định chính trị, xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

C. Đánh giá những hạn chế, khó khăn của công nghiệp và thương mại trong thời ký 1976 - 1985

I. Về công nghiệp

    Mặc dù có những tiến bộ, nhất là trong thời kỳ 1980-1985, nhưng nhìn chung, công nghiệp Việt Nam hãy còn nhỏ bé. Năm 1985, ngành công nghiệp mới chiếm 10,7% tổng số lao động xã hội, và chủ yếu là lao động thủ công với năng suất thấp. Tuy chiếm khoảng 40% giá trị tài sản cố định của cả nền kinh tế quốc dân, nhưng công nghiệp chỉ tạo ra chưa tới 30% thu nhập quốc dân, hiệu quả trên đồng vốn đầu tư còn rất thấp. Công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu trong nước về trang thiết bị hiện đại hoá cho nền kinh tế và các hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân. Tuy đầu tư của Nhà nước cho công nghiệp rất lớn và không ngừng tăng lên qua các năm, số lượng xí nghiệp công nghiệp cũng tăng nhanh, nhưng sản xuất công nghiệp và giá trị sản lượng lại tăng chậm.

    Tình hình trên có những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nhưng nghiêm túc mà nói, thì nguyên nhân chủ quan là có tính quyết định:

    Thứ nhất: Sau khi thống nhất đất nước và hoà bình lập lại, trong những năm 1976 –1980, do nhận định và đánh giá không sát tình hình, chỉ nhấn mạnh mặt thuận lợi mà không thấy hết khó khăn như xuất phát điểm còn quá thấp, lại bị chiến tranh và phong toả từ bên ngoài. Do đó, chúng ta đã duy ý chí đề ra các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội và công nghiệp quá cao. Kết quả là nhiều nhiệm vụ và chỉ tiêu phát triển công nghiệp đã không hoàn thành. Điều này gây nên bị động và lúng túng, đồng thời làm trầm trọng thêm những mất cân đối và căng thẳng trong nền kinh tế.

    Thứ hai: Quan điểm xây dựng cơ cấu kinh tế lại thiên về phát triển công nghiệp nặng, những công trình quy mô lớn, cần nhiều vốn và chậm thu hồi. Kết quả là các nguồn vốn đầu tư của xã hội bị dàn trải, chôn trong các công trình dở dang, chậm đưa vào sản xuất. Trong khi đó, lại không tập trung đúng mức cho phát triển lương thực – thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Nên kết quả đầu tư mang lại hiệu quả thấp, xã hội lại thiếu những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu.

    Thứ ba: Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp miền Nam, chưa quán triệt chính sách kinh tế nhiều thành phần, có tư tưởng nóng vội muốn xoá bỏ ngay kinh tế tư nhân, gắn liền với nó là nguồn vốn, vật tư và thị trường mà các xí nghiệp này vốn có mối liên hệ quen thuộc, kể cả mối quan hệ với nước ngoài, muốn nhanh chóng tập thể hoá những người kinh doanh nhỏ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Điều này càng đẩy chúng ta vào một tình thế khó khăn, khốn đốn.

    Thứ tư: Cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp còn hết sức yếu kém, thiếu đồng bộ, cũ nát. Trình độ kỹ thuật lạc hậu, phổ biến là của những năm 60 về trước, lại chỉ phát huy được 50% công suất là phổ biến. Công nghiệp nặng còn xa mới đáp ứng nhu cầu tối thiểu trang bị cho nền kinh tế quốc dân, công nghiệp nhẹ bị lệ thuộc từ 70-80% nguyên liệu nhập. Đại bộ phận lao động xã hội hãy còn là lao động thủ công. Nền kinh tế vẫn ở tình trạng sản xuất nhỏ, phân công lao động xã hội chưa phát triển, năng suất lao động xã hội thấp. Cơ cấu kinh tế chậm thay đổi, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng. Sản xuất phát triển chậm, không tương xứng với chi phí và đầu tư. Sản xuất không đủ tiêu dùng, làm không đủ ăn và phải dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn. Sản xuất chưa có tích luỹ từ nội bộ; quỹ tích luỹ nhỏ bé, quỹ tiêu dùng phải dựa một phần vào nước ngoài. Sự yếu kém của công nghiệp góp phần làm tăng khoản nợ nước ngoài tới 8,5 tỷ Rúp/USD trong thời kỳ 1985; đời sống nhân dân và cán bộ, công nhân viên, lực lượng vũ trang thêm khó khăn; mức lương thực tế bình quân năm 1980/1975 bằng 51,1%, năm 1984/1975 chỉ bằng 32,7%. Tiêu cực xã hội và khủng khoảng kinh tế - xã hội nẩy sinh.

    Thứ năm: Chậm đổi mới quản lý kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp của thời kỳ chiến tranh. Quản lý nhà nước chồng chéo và chưa tách khỏi quản lý kinh doanh. Điều đó làm cho các đơn vị kinh tế cơ sở, nhất là các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, trở nên lệ thuộc và trông chờ ỷ lại, thiếu năng động sáng tạo. Trong công nghiệp, chỉ sử dụng 50% công suất, chất lượng sản phẩm kém, hàng hoá tiêu dùng thiết yếu thiếu nghiêm trọng. Nhiều xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, ngân sách phải trợ cấp và bù lỗ. Các nguồn bao cấp của Nhà nước cũng ngày càng hạn chế. Nhiều ngành công nghiệp, kể cả công nghiệp nặng như điện, than, xi măng thời kỳ đầu có tăng trưởng nhờ còn vật tư, nguyên liệu dự trữ, nhưng sau đó giảm sút dần; đặc biệt, công nghiệp nhẹ thiếu nguyên liệu trầm trọng, công suất huy động chỉ đạt khoảng 30 - 50%. Tình hình ngày càng bộc lộ khuyết tật của cơ chế cũ và có nhu cầu đòi hỏi phải cải cách. Ở nhiều cơ sở và địa phương xuất hiện các nhân tố mới. Nhằm tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất phát triển, đã có những tìm tòi, thử nghiệm sáng tạo cách làm ăn vượt ra khỏi cơ chế cũ, khi đó gọi là hiện tượng “xé rào”.

    II. Về thương mại

    Hội nghị Trung ương 3 khoá V được tổ chức vào đầu tháng 12 năm 1983. Một trong ba nội dung chính của Hội nghị là bàn về “mấy vấn đề cấp bách” trong công tác phân phối lưu thông. Sau hội nghị, phân phối – lưu thông được chấn chỉnh theo hướng trở lại cơ chế phân phối lưu thông trước Nghị quyết số 26 – NQ/TW năm 1980. Các công ty xuất nhập khẩu địa phương được sáp nhập lại theo hướng mỗi tỉnh, thành chỉ còn một công ty xuất nhập khẩu.

    Ngày 29 tháng 01 năm 1983, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 08 – NQ/TW để uốn nắn lại những biểu hiện bị coi là buông lỏng quản lý ở Hà Nội.

    Tháng 6 năm 1983, Hội nghị trung ương 4 được tổ chức. Bài phát biểu kết thúc hội nghị của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhận định: “Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có sai lầm là không làm chủ thị trường, không làm chủ phân phối lưu thông…, đã buông lỏng cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tiểu, thủ công nghiệp và tiểu thương, để cho bọn tư sản cũ và mới phục hồi và phát triển, có thêm thế lực chống chủ nghĩa xã hội. Việc hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ so với nhu cầu tiến hành có phần chậm”.

    Tháng 12 năm 1983, Hội nghị Trung ương 5 được tổ chức. Hội nghị này, như Báo cáo tóm tắt tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới trình Hội nghị Trung ương 11 khoá IX đánh giá, đã: “...xem sự chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân của tình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội và chủ trương đẩy mạnh hơn nữa về cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xoá bỏ thị trường tự do về lương thực và nông – hải sản quan trọng, thống nhất quản lý giá, bảo đảm cung cấp đủ 9 mặt hàng theo đúng định lượng cho người ăn lương… Trong hợp tác xã nông nghiệp thì quản lý, điều hành chặt chẽ tất cả các khâu trong kế hoạch…”.

    Các bộ và các tỉnh (nhất là các tỉnh ở miền Nam) cho rằng, mức tăng lương 20% là quá ít. Một số đề nghị nâng mức tăng lương lên 100%. Chính phủ cũng chấp nhận tăng lương 100%. Chi ngân sách nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức Ban chỉ đạo đề nghị. Để cứu ngân sách, lượng tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch. Lạm phát bùng nổ. Những vòng xoáy điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho lạm phát leo thang nhanh chóng trong năm 1986. Tiền phát hành nhiều và vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hoá khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng 10 lần vẫn không đủ bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút. Đầu tư trong công nghiệp giảm.

    Đặc biệt, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976-1980 chưa tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn. Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút. Do cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu và bao cấp nên hiệu quả đầu tư cho công nghiệp thời kỳ này vẫn thấp. Đầu tư nhiều nhưng tăng trưởng sản xuất vẫn chậm và không ổn định. Nhiều chỉ tiêu bình quân đầu người năm 1985 vẫn thấp hơn năm 1976: than chỉ bằng 81%, gạch 65,3%, giấy bìa 86,7%, cá biển 85,4%. Tình trạng làm không đủ ăn, thu chi ngân sách phải dựa vào vay và viện trợ nước ngoài. Tính đến năm 1985, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ R và 1,9 tỷ USD. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm 1985 là 36,6% phải bù đắp bằng phát hành giấy bạc. Và hậu quả tất yếu là tình trạng siêu lạm phát vào năm 1986 với tốc độ tăng giá 774,7%. Khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm đã bộc lộ rõ nét trên phạm vi cả nước.

    Ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1981-1985), nhiều Nghị quyết và Quyết định quan trọng của Đảng và Chính phủ được ban hành, nhằm từng bước sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tư nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp. Trước đó, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắc tồn tại 3 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể và cá thể; miền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể. Đó là bước khởi đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường.

    Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9/1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.

    Với những bước đi đổi mới từng phần theo những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, những sáng kiến, sự năng động, sáng tạo của nhân dân, của các địa phương, cơ sở sản xuất kinh doanh, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam những năm 1981-1985 có bước phát triển khá. Sản lượng lương thực bình quân mỗi năm đạt 17 triệu tấn, sản lượng công nghiệp tăng bình quân 9,5%/năm. Thu nhập quốc dân tăng bình quân hàng năm 6,4%. Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được xây dựng đáng kể với hàng trăm công trình được cơ khí hoá và tự động hóa, và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt, giao thông. Về năng lực sản xuất, đã tăng thêm 456.000 kW điện, 2,5 triệu tấn than, 2,4 triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, 58.000 tấn giấy, thêm 309.000 ha được tưới nước, 186.000 ha được tiêu úng. Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế-xã hội vẫn trầm trọng mà biểu hiện là: (1) kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất là không phát triển. Nếu tính chung từ năm 1976 đến 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân hàng năm chỉ tăng ở mức 4,6%; thu nhập quốc dân tăng 38,8% bình quân hàng năm chỉ tăng 3,7%, trong khi tỷ lệ dân số tăng trung bình hàng năm 2,3%; (2) không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 - 90% thu nhập quốc dân sử dụng; (3) siêu lạm phát hoành hành. Suốt trong thời kỳ 1976-1985 chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau so năm trước luôn tăng ở mức hai con số và giao động ở mức 19-92%. Năm 1986, lạm phát đạt đỉnh điểm với tốc độ tăng giá 774,7% và (4) đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn.

    Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hoá. Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm 1985 và năm 1986, song, chính sự khủng hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng, đã cải cách là phải cải cách triệt để. Mô hình cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn. Trên cơ sở đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới lịch sử.

CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN
LÃNH ĐẠO QUA CÁC THỜI KỲ