Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Cử tri tỉnh Nghệ An
Trả lời:
Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Cử tri tỉnh Nghệ An
Bộ Công Thương xin được trả lời Đại biểu về vấn đề này như sau:
1. Vai trò, vị trí và thực trạng thương mại trong nước nói chung và bán lẻ nói riêng
- Thương mại trong nước nói chung, ngành bán lẻ nói riêng có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu về hàng hóa cho nhân dân và góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế.
Giai đoạn từ 2006-2015, dù ngân sách đầu tư không đáng kể nhưng đóng góp bình quân của thương mại trong nước (TMTN) trong GDP khoảng 10,6%/năm (đứng thứ ba sau ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo), tạo công ăn việc làm cho khoảng 12% tổng lao động xã hội (đứng thứ ba sau ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo). Năm 2015, lao động trong lĩnh vực TMTN khoảng 6,7 triệu người).
- Ngành bán lẻ có số lượng chủ thể kinh doanh khá đông đảo, tuy nhiên đa phần ở quy mô nhỏ, siêu nhỏ. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tới thời điểm 31/12/2014, số doanh nghiệp đang hoạt động TMTN là 158.761 doanh nghiệp (chiếm xấp xỉ 40% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động); trong đó riêng ngành bán lẻ khoảng 42.273 doanh nghiệp (phần lớn là doanh nghiệp với quy mô nhỏ, siêu nhỏ với số lượng người lao động dưới 9 người – chiếm 88%). Ngoài ra, số lượng các cơ sở kinh doanh TMTN dưới hình thức hộ gia đình, cá nhân kinh doanh khoảng trên 2 triệu.
- Kết cấu hạ tầng thương mại bán lẻ có sự tăng trưởng nhanh chóng, nhất là các hình thức bán lẻ hiện đại.
Về chợ: Theo số liệu thống kê tổng hợp từ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước, tổng số chợ cả nước tới thời điểm tháng 12 năm 2015 là 8.660 chợ; trong đó chợ hạng I có 284 chợ, chiếm tỷ lệ 3,28%; chợ hạng II có 924 chợ, chiếm tỷ lệ 10,67%; chợ hạng III có 7.452 chợ, chiếm tỷ lệ 86,05%. Tính chung trên các địa bàn, giá trị hàng hóa dịch vụ qua hệ thống chợ chiếm trung bình khoảng 40%, góp phần vào việc tiêu thụ hàng hóa, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân. Trong đó, thị phần chợ ở địa bàn nông thôn chiếm từ 50-70%.
Về siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, chuyên doanh: Trước khi Việt Nam gia nhập WTO (cuối năm 2006), mới có khoảng 380 siêu thị tại 41/63 tỉnh, thành phố và 55 trung tâm thương mại tại 20/63 tỉnh, thành phố , đến cuối năm 2015 đã có 812 siêu thị tại 62/63 tỉnh, thành phố (Hà Giang là tỉnh chưa có siêu thị) và 162 trung tâm thương mại tại 41/63 tỉnh, thành phố (tỷ lệ tăng so với cuối năm 2006, tương ứng với siêu thị là 118,95% và trung tâm thương mại là 195,55%). Ngoài ra, còn hàng trăm cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi hiện đại hoạt động theo mô hình chuỗi đang phát triển khá nhanh được phân bố chủ yếu ở các thành phố lớn.
2. Về chính sách thúc đẩy sự phát triển của ngành bán lẻ và trách nhiệm của Bộ Công Thương
Các chính sách thúc đẩy sự phát triển TMTN nói chung, bán lẻ nói riêng bao gồm nhóm chính sách liên quan tới định hướng, quy hoạch phát triển ngành và nhóm chính sách ưu đãi đối với ngành.
Với trách nhiệm quản lý của mình, Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Thương mại) đã trực tiếp khảo cứu, xây dựng đề án, trình Bộ Chính trị, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành một số cơ chế, chính sách thể hiện quan điểm, định hướng, giải pháp và dự án hỗ trợ, khuyến khích phát triển thương mại trong nước, trong đó có phát triển hệ thống bán lẻ. Có thể kể ra một số văn bản chủ yếu sau đây:
(1) Nghị quyết số 12/NQ-TW ngày 03/01/1996 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN”;
(2) Quyết định số 311/QĐ-TTg ngày 20/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Tiếp tục tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại nông thôn đến năm 2010”;
(3) Chỉ thị số 13/2004/CT-TTg ngày 31/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mạnh thị trường nội địa;
(4) Quyết định số 27/2007/QĐ-TTg ngày 15/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”;
(5) Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020”;
(6) Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý chợ và Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý chợ;
(7) Các quy hoạch liên quan tới phát triển kết cấu hạ tầng thương mại như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại...
- Mặc dù TMTN (trong đó có bán lẻ) có vai trò, vị trí quan trọng như đã nêu ở trên và Bộ Công Thương đã đề xuất tham mưu nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại trong nước cũng như ngành bán lẻ, tuy nhiên Nhà nước gần như chưa có sự quan tâm, đầu tư và hỗ trợ nhiều. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới và mở cửa dịch vụ phân phối theo cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới, hạ tầng thương mại bán lẻ xét về tổng thể vẫn còn yếu kém và lạc hậu, chưa đáp ứng được so với đòi hỏi phát triển của ngành và phát triển của thị trường, đại bộ phận doanh nghiệp là nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Có thể kể đến những tồn tại hạn chế trong ngành như:
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại bán lẻ (chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, chuyên doanh...) tăng nhanh nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu và phát triển mạnh ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Ở nông thôn, miền núi mạng lưới chợ còn thưa thớt; siêu thị, trung tâm thương mại còn ít.
+ Hệ thống chợ, siêu thị chủ yếu thiên về chức năng bán lẻ và đa số chợ có qui mô nhỏ, ở vùng nông thôn, chợ hạng III (chiếm 86%), cơ sở vật chất-kỹ thuật còn sơ sài, lạc hậu. Chợ đầu mối, chợ tổng hợp qui mô lớn có chức năng bán buôn, thu gom và phát luồng hàng hoá còn ít (cả nước chỉ có 61 chợ đầu mối, chiếm 0,7% tổng số chợ). Vì vậy, hệ thống chợ chưa tương xứng với vị trí và vai trò của chợ và chưa đáp được đầy đủ nhu cầu của sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân.
+ Nguồn vốn đầu tư phát triển chợ còn chưa thỏa đáng, cơ chế phân bổ chưa hợp lý. Do đa số các tỉnh còn nghèo, ngân sách còn hạn hẹp trong khi phải giải quyết nhiều vấn đề bức xúc về phát triển kinh tế-xã hội nên việc dành ngân sách của tỉnh để hỗ trợ đầu tư chợ còn bị hạn chế. Các tỉnh có điều kiện ngân sách khá hơn thì hiện lại vướng bởi quy định tại Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước. Ngoài ra, khả năng huy động từ các nguồn khác còn khó khăn.
+ Thực hiện chủ trương xã hội hoá đầu tư phát triển hạ tầng thương mại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở địa bàn nông thôn, miền núi. Một mặt do hạn chế của chính sách khuyến khích, ưu đãi nhà đầu tư (cả ở trung ương và địa phương), mặt khác, ở vùng mà điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và dân ở vùng nông thôn miền núi của nhiều địa phương còn nghèo, thu nhập, sức mua của người dân không cao, nên khó huy động vốn đầu tư cũng như xã hội hóa đầu tư để phát triển hạ tầng thương mại. Việc phát triển kết cấu hạ tầng thương mại tại các vùng khó khăn cần dựa vào nguồn vốn ngân sách nhà nước, đặc biệt là ngân sách trung ương.
+ Việc đầu tư nước ngoài chủ yếu phát triển các loại hạ tầng thương mại văn minh, hiện đại ở các thành phố lớn, còn chợ và địa bàn nông thôn chưa có đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài (do qui mô nhỏ, sinh lợi ít...).
+ Chưa có chính sách đặc thù hỗ trợ, khuyến khích phát triển cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoạt động thương mại...
Nguyên nhân của hạn chế nêu trên:
+ Nhận thức chưa đúng, chưa đủ và chưa thống nhất về vị trí, vai trò cũng như tiềm năng của thương mại trong nước, đặc biệt là phân phối, bán lẻ. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến thương mại trong nước nói chung, hạ tầng thương mại bán lẻ nói riêng chưa phát triển đúng với khả năng thực tế.
+ Nguồn lực nhà nước đầu tư cho cơ sở hạ tầng thương mại chưa được quan tâm: vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước cho TMTN rất không đáng kể và có xu hướng giảm dần. Năm 2015 vốn đầu tư cho ngành đạt giá trị khoảng 8.364 tỷ đồng, đứng thứ 15/18 ngành và chỉ chiếm 1,6% trong tổng vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước (các năm từ 2010-2014; tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư lần lượt là 2,3%; 3,15%; 2,5% và 1,4%).
+ Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng thương mại từ ngân sách nhà nước còn hạn chế và thiếu sự đồng bộ:
Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm của Thủ tướng Chính phủ 2010 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 không có quy định riêng về sử dụng vốn đầu tư phát triển để xây dựng hạ tầng thương mại nói chung, chợ nói riêng.
Các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 được thực hiện theo Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Quyết định này ngành thương mại có các dự án sau được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương): Các dự án chợ dân sinh, chợ đầu mối, trung tâm logistics, trung tâm hội chợ triển lãm, kết cấu hạ tầng xuất khẩu, nhập khẩu ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Tại Mục I của nguyên tắc, định mức, tiêu chí phân bổ).
Tuy nhiên, tại Mục VI nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêu: thì không có nội dung đầu tư phát triển hạ tầng thương mại. Do vậy, không sử dụng được ngân sách trung ương cho việc đầu tư các dự án hạ tầng thương mại theo Mục I, mà chỉ có thể sử dụng vốn đầu tư phát triển từ nguồn cân đối ngân sách địa phương để đầu tư cho các Dự án hạ tầng nêu trên.
+ Việc ban hành các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển hạ tầng thương mại chưa đồng bộ, vẫn còn hạn chế (ví dụ: trong Nghị định số 114/2009/NĐ-CP có nêu các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng chợ được hưởng chính sách ưu đã về tín dụng đầu tư, tuy nhiên trong Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu thì không quy định các nhà đầu tư xây dựng chợ được hưởng chính sách tín dụng theo Nghị định này).
+ Chính sách khuyến khích, ưu đãi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển hạ tầng thương mại còn chưa phù hợp, đối tượng được hưởng trong phạm vi hẹp. Hầu như không có chính sách ưu đãi (thuế, đất đai, tín dụng...) đầu tư phát triển riêng cho ngành phân phối bán lẻ và cho hệ thống hạ tầng thương mại nói riêng.
Ngoài chợ hạng 1, Nhà nước hầu như không có cơ chế hỗ trợ thực sự để thúc đẩy phát triển hệ thống bán lẻ, nhất là phát triển các loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại thông qua chính sách ưu đãi đầu tư: Sau khi Nghị định số 35/2002/NĐ-CP ngày 29/3/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/1999/NĐ-CP có hiệu lực thì việc đầu tư xây dựng (kể cả việc đầu tư mua sắm trang thiết bị) siêu thị - một loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại điển hình, đã bị đưa ra ngoài Danh mục ưu đãi đầu tư (chỉ có chợ hạng 1 được bổ sung vào Danh mục ưu đãi đầu tư xây dựng này). Tiếp đó, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2005 cũng không đưa siêu thị hay một loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại nào khác vào diện ưu đãi đầu tư, mà chỉ có chợ hạng 1 và khu triển lãm thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Mãi đến cuối năm 2015, với sau nhiều năm đề xuất của Bộ Công Thương, quy định về ưu đãi đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng liên quan đến phát triển hệ thống bán lẻ, như “Đầu tư kinh doanh trung tâm hội chợ triển lãm hàng hóa, trung tâm logistic, kho hàng hóa, siêu thị, trung tâm thương mại” mới được đưa vào Danh mục ưu đãi đầu tư tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014 cùng với “Đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh chợ tại vùng nông thôn” thuộc Danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, để hiện thực hóa chính sách này còn phụ thuộc vào nguồn Ngân sách hiện đang khó khăn của nước ta.
+ Công tác xã hội hóa đầu tư xây dựng chợ ở nông thôn khó thực hiện, đặc biệt ở các vùng khó khăn (do chợ chủ yếu phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hóa nông sản hàng hóa tự sản xuất nên các nhà đầu tư khó có khả năng thu hồi vốn. Việc huy động nguồn vốn tự đóng góp của dân, của các hộ kinh doanh cũng hết sức khó khăn vì nhiều hộ kinh doanh không thường xuyên nên các hộ không chú trọng đầu tư vào điểm kinh doanh cố định và chỉ nộp lệ phí theo từng phiên chợ). Các chợ hạng III (hiện chiếm 86% tổng số chợ trên cả nước) nguồn thu không đáng kể nên khó kêu gọi vốn xã hội hóa để đầu tư. Một số chợ không có quỹ đất công để nâng cấp mở rộng nên thực hiện giải tỏa bồi hoàn cần kinh phí đầu tư rất lớn, khó kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư.
Trong khi đó vốn hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng thương mại từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 thực hiện theo các quy định pháp luật về đầu tư công. Theo Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg, do ngân sách còn hạn chế nên trước mắt giai đoạn 2016-2020 không phân bổ vốn đầu tư phát triển hạ tầng thương mại từ ngân sách Trung ương, việc đầu tư phát triển một số loại hình hạ tầng thương mại được cân đối từ ngân sách địa phương.
+ Đối với hoạt động thương mại, vị trí đất là đặc biệt quan trọng. Hiện nay quy hoạch ngành chưa gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ nên thiếu mặt bằng thuận lợi để bố trí hoạt động thương mại. Nếu có mặt bằng thì do quan điểm đất thương mại là loại đất dịch vụ nên giá thuê, giá đấu thầu cao trong khi doanh nghiệp phần lớn là vừa và nhỏ nên càng khó khăn hơn trong hoạt động kinh doanh.
+ Khai thác nguồn lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh để phát triển hạ tầng thương mại bị hạn chế do năng lực và vị thế của đa số các doanh nghiệp, hộ kinh doanh... còn yếu.
+ Việc đào tạo lao động cho ngành phân phối, bán lẻ chưa được quan tâm nhiều, chưa tương xứng với số lượng chủ thể kinh doanh trong ngành (đặc biệt là các cơ sở kinh doanh cá thể, quy mô nhỏ với số lượng khoảng 2 triệu).
3. Thứ hai, về vấn đề Đại biểu đề cập liên quan đến sự “thao túng và chiếm lĩnh thị trường”, Bộ Công Thương xin thông tin làm rõ như sau:
3.1. Hoạt động đầu tư thông qua hình thức M&A vài năm gần đây trong lĩnh vực phân phối hàng hóa được báo chí nhắc đến nhiều là các thương vụ mua bán doanh nghiệp, góp vốn, chuyển nhượng cổ phần. Trong đó, có thông tin cho rằng hệ thống bán lẻ trong nước đang bị thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động M&A này và như Đại biểu đề cập, “hệ thống bán lẻ nước ta…, hiện nay có nguy cơ bị thao túng và chiếm lĩnh thị trường”. Theo đó:
- Liên quan đến đầu tư từ nước ngoài, các thương vụ M&A trong lĩnh vực phân phối thời gian qua có thể chia thành các loại sau:
(i) Doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lại cho nhà đầu tư nước ngoài (như Metro, Big C Việt Nam) cũng vẫn là từ chủ đầu tư nước ngoài này chuyển nhượng sang chủ đầu tư nước ngoài khác.
(ii) Các thương vụ chuyển nhượng cổ phần của doanh nghiệp bán lẻ vốn trong nước cho nhà đầu tư nước ngoài, như: Điện máy Nguyễn Kim chuyển nhượng 49% cổ phần cho một Central Group (Thái Lan); Điện máy Trần Anh chuyển nhượng gần 31% cổ phần cho Nojima (Nhật Bản), Citimart chuyển nhượng 49% cổ phần và Fivimart chuyển nhượng 30% cổ phần cho Aeon Nhật Bản: đều là chuyển nhượng dưới 51% cổ phần và quyền quyết định vẫn là của doanh nghiệp trong nước...
Ngoài thương vụ có quy mô tương đối lớn (với việc thay đổi nhà đầu tư nước ngoài là Metro và Big C (ước chiếm khoảng 1,07% trong Tổng mức bán lẻ 3.187 nghìn tỷ đ năm 2015, trong đó: Big C khoảng 19 nghìn tỷ đ, Metro khoảng 15 nghìn tỷ đ), các vụ chuyển nhượng còn lại cho đến nay là không đáng kể về cả quy mô vốn góp và số lượng cơ sở bán lẻ.
- Đối với đầu tư trong nước, chủ yếu là thương vụ Vingroup mua lại chuỗi siêu thị của Ocean Mart, Vinatexmart và Maximark. Sự “thâu tóm” hay “thao túng” này, đặc biệt là sự phát triển của các trung tâm thương mại “Vincom Center”, chuỗi siêu thị “VinMart” và chuỗi cửa hàng tiện lợi “VinMart+”, chuỗi cửa hàng điện máy “VinPro” của Tập đoàn Vingroup mấy năm gần đây cùng với các thương hiệu bán lẻ của doanh nghiệp bán lẻ FDI (như Big C, Lotte Mart, Aeon...) đã làm cho hệ thống bán lẻ nước ta có bước phát triển đáng kể theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng ở Việt Nam.
3.2. Trong nền kinh tế thị trường gắn liền với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động M&A trong nền kinh tế nói chung, lĩnh vực phân phối hàng hóa nói riêng là điều bình thường dù là đầu tư trong nước hay đầu tư từ nước ngoài, chủ thể đến từ Thái Lan, Nhật Bản hay bất kỳ từ nước hoặc vùng lãnh thổ nào khác.
Thực tế cho thấy đối với đầu tư nước ngoài, hoạt động M&A này có một số tác động tích cực. Điều đó thể hiện khá rõ đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước khi chọn nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, liên doanh đầu tư kinh doanh (như Fivimart, Citimart, Trần Anh) trong việc đổi mới hình ảnh bên ngoài (như kết hợp thương hiệu: Aeon-Citimart, Aeon-Fivimart) đến hoạt động bên trong thông qua việc học tập từ sự truyền dạy trực tiếp của chuyên gia nước ngoài cho lao động người Việt cả trực tiếp và gián tiếp. Đồng thời, bản thân hàng Việt cũng đổi mới nhiều từ chất lượng, mẫu mã, bao gói... cắt giảm chi phí để cạnh tranh với hàng ngoại... Việc nhập hàng ngoại cũng phải lựa chọn để phù hợp với thị hiếu, chất lượng và khả năng thanh toán của đông đảo khách hàng Việt Nam…
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, FDI bán lẻ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, khoảng dưới 4% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước (cụ thể năm 2011: 2,9%, 2012: 2,9%, 2013: 3,9%, 2014: 3,9%, và năm 2015: 3,79 %).
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thức rõ để có định hướng và giải pháp phù hợp trước tác động tiêu cực tiềm ẩn tới sự phát triển của thị trường bán lẻ trong nước, nhất là khi các doanh nghiệp FDI tăng cường mở rộng đầu tư, đặc biệt là sự xuất hiện của các nhà đầu tư thông qua hình thức mua lại doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp bán lẻ trong nước. Các quan ngại về tác động tiêu cực và vấn đề có thể phát sinh của đầu tư nước ngoài đối với thị trường bán lẻ trong nước được giới truyền thông đề cập và Đại biểu cũng đã biết là có cơ sở
4. Thứ ba, về giải pháp sắp tới để thúc đẩy TMTN (trong đó có bán lẻ) phát triển
Trên cơ sở xác định và nâng cao nhận thức về vai trò của TMTN, trong đó có hoạt động bán lẻ hàng hóa đối phát triển kinh tế đất nước và trong khuôn khổ không vi phạm các cam kết mở cửa thị trường, Bộ Công Thương đã, đang triển khai và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với đầu tư nước ngoài và phát triển hệ thống bán lẻ trong nước, như sau:
4.1. Về phía nhà nước:
- Tiếp tục rà soát các cam kết quốc tế và pháp luật trong nước, sớm hoàn thiện các quy định có liên quan đến hoạt động phân phối nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích mà Việt Nam đã đạt được trong các cam kết quốc tế. Hiện Bộ Công Thương đang hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP về hoạt động mua bán hàng hóa... của doanh nghiệp FDI nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa lĩnh vực phân phối, tạo dư địa cho doanh nghiệp phân phối trong nước có điều kiện phát triển. Theo đó, sẽ đề xuất bổ sung quy định khi thực hiện Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) đối với dự án lập thêm cơ sở bán lẻ mới của doanh nghiệp FDI để ngăn chặn các hiện tượng lợi dụng kẽ hở của pháp luật, như: hoạt động chuyển giá dẫn đến hạch toán lỗ kéo dài bất hợp lý; né tránh ENT bằng việc lập pháp nhân mới, xem xét ENT trước khi xây dựng, mua, thuê địa điểm lập cơ sở bán lẻ….
- Đề xuất Chính phủ giao Bộ Tài chính:
+ Bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý thuế, phòng ngừa và ngăn chặn hiệu quả hành vi chuyển giá của doanh nghiệp FDI mà không ảnh hưởng tới thu hút đầu tư nước ngoài; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, giá...
+ Tiếp tục cải cách hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực thuế, phí, rà soát các khoản thuế, phí còn trùng lặp, công khai minh bạch và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong quá trình kê khai nộp thuế.
- Kiến nghị Chính phủ cho phép Bộ Công Thương xây dựng và triển khai Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng thương mại bền vững (như Bộ Công Thương đã từng đề nghị tại Văn bản số 10052/BCT-TTTN ngày 10/10/2014 gửi Thủ tướng Chính phủ về việc định hướng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại).
- Triển khai thực hiện quy định về ưu đãi đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng liên quan đến hoạt động phân phối hàng hóa như thuộc danh mục ưu đãi đầu tư tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư. Từ đó, căn cứ vào quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại, các địa phương chủ động cung cấp thông tin về quy hoạch, bố trí quỹ đất thương mại, ưu tiên cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận mặt bằng để chiếm giữ và phát triển hệ thống phân phối. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan để khuyến khích thu hút và xã hội hóa nguồn vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng thương mại.
- Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung một số chính sách về phát triển hạ tầng thương mại cho đồng bộ, cụ thể:
+ Khi xây dựng, ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu và Nghị định số 54/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, bổ sung việc đầu tư chợ vào đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo Nghị định này để phù hợp với Nghị định số 114/2009/NĐ-CP.
+ Sửa đổi Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa theo hướng: bổ sung chợ trên địa bàn nông thôn vào đối tượng được hưởng chính sách xã hội hóa theo Nghị định này.
+ Bổ sung vào Danh mục ưu đãi đầu tư tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP đối với hình thức đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh chợ tại địa bàn thành thị. Đồng thời, nghiên cứu, bổ sung các loại hình bán lẻ khác có triển vọng phát triển (cửa hàng tiện lợi, cửa hàng bách hóa tổng hợp…) vào Danh mục nêu trên.
+ Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020 theo hướng không quy định cứng các chợ được đầu tư từ ngân sách nhà nước để tạo điều kiện cho công tác đầu tư phát triển chợ, tạo sự đồng bộ trong việc triển khai các văn bản có liên quan.
- Về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ: là ngành sử dụng nhiều lao động và vì vậy việc nâng cao chất lượng lao động trong ngành có ý nghĩa quan trọng việc việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Trong thời gian tới cần quan tâm tới việc hỗ trợ về kỹ năng quản lý (cho lãnh đạo doanh nghiệp, chủ cơ sở kinh doanh bán lẻ) cũng như đào tạo về kỹ năng chuyên môn cho lao động trong ngành. Cụ thể:
+ Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu mở chuyên ngành về bán lẻ trong giáo dục đại học, sau đại học; trước mắt xây dựng đội ngũ giáo viên và nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho hệ thống các trường dậy nghề, cao đẳng trực thuộc Bộ Công Thương để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành;
+ Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình đã đề ra trong Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020” về hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thương mại trong nước; Đồng thời, cần coi nội dung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thương mại trong nước là hoạt động thường niên, lâu dài để bố trí kinh phí đầy đủ để thực hiện.
+ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực phân phối bán lẻ thông qua các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và các chương trình đào tạo đã thỏa thuận với phía Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như tìm kiếm cơ hội hợp tác với đối tác khác, tiếp tục mở rộng diện hỗ trợ cho hoạt động này;
- Tiếp tục thực hiện và nghiên cứu bổ sung các giải pháp có thể để hỗ trợ các doanh nghiệp bán lẻ trong nước về xúc tiến thương mại (nhất là xúc tiến phát triển thị trường trong nước), về ứng dụng công nghệ thông tin, về tư vấn pháp lý, về áp dụng công nghệ và kỹ năng quản lý từ các tập đoàn bán lẻ uy tín trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi về tiếp cận tín dụng (nghiên cứu xây dựng quỹ cho doanh nghiệp phân phối trong nước vay ưu đãi để hỗ trợ tạo lập mặt bằng bán lẻ…).
- Tiếp tục triển khai 3 nhóm chương trình hành động đã đề ra tại Quyết định số 634/QGG-TTg ngày 29/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014 – 2020, bao gồm 12 chương trình cụ thể đã đề ra trong Quyết định này.
- Tiến hành rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới quy hoạch về phát triển kết cấu hạ tầng thương mại, làm cơ sở để các doanh nghiệp phân phối có thông tin trong việc phát triển hệ thống phân phối của mình.
- Ngoài ra, tiếp tục tăng cường: phối hợp với các cơ quan truyền thông để phổ biến các cam kết quốc tế để cộng đồng doanh nghiệp sớm định hình được chiến lược kinh doanh phù hợp; và trao đổi, đối thoại trực tiếp trong quá trình hướng dẫn, giải thích và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp...
4.2. Về phía doanh nghiệp:
- Tăng cường sự liên kết giữa doanh nghiệp bán lẻ với các nhà sản xuất trong việc tạo nguồn hàng sản xuất trong nước với giá cả cạnh tranh bảo đảm đủ tiêu chuẩn chất lượng có thể thỏa mãn nhu cầu mua sắm tiêu dùng đa dạng và ngày càng cao ở Việt Nam để cung ứng cho các cơ sở bán lẻ nhằm giảm sự phụ thuộc vào hàng cùng loại nhập khẩu.
- Đối với cơ sở bán lẻ của hộ kinh doanh ở các khu dân cư, đường phố cũ, chủ yếu dựa trên cơ sở khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ trong nước có thương hiệu đủ mạnh đứng ra tập hợp, liên kết các cửa hàng thực phẩm và tạp hóa hiện hữu (của hộ gia đình có nhà ở mặt tiền), hỗ trợ họ nâng cấp trang bị, thay đổi phương thức quản lý, cung cách phục vụ để hướng các cửa hàng này chuyển thành cửa hàng tiện lợi theo mô hình chuỗi thông qua phương thức nhượng quyền thương mại hoặc đầu tư trực tiếp (như Vingroup đã mở được khoảng 800 cửa hàng Vinmart+...).