Các địa phương tìm giải pháp mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số
Từ kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại đến thương mại điện tử, các địa phương đang tìm cách mở rộng thị trường, nâng giá trị sản phẩm vùng dân tộc thiểu số.
Từ kết nối cung cầu đến mở rộng thị trường
Tại nhiều địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sản phẩm nông nghiệp, OCOP, dược liệu và hàng thủ công mang trong mình những lợi thế riêng từ điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa và văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, để những lợi thế ấy chuyển hóa thành giá trị kinh tế, bài toán quan trọng vẫn là tìm đầu ra ổn định và mở rộng thị trường.

Thực tế từ Lâm Đồng cho thấy, hoạt động kết nối và mở rộng thị trường đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những chuyển biến tích cực. Nếu trước đây sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương hoặc thông qua thương lái, các kênh phân phối truyền thống, thì hiện nay doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất ngày càng quan tâm hơn đến xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc.
Theo ông Lê Minh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý Thương mại, Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng, thông qua các chương trình xúc tiến thương mại như hội chợ, triển lãm, kết nối cung cầu, nhiều sản phẩm khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có thêm cơ hội tiếp cận doanh nghiệp thu mua, hệ thống phân phối và người tiêu dùng tại các địa phương khác.
Cùng với đó, thương mại điện tử, nền tảng số và quảng bá trực tuyến đang từng bước giúp các cơ sở sản xuất, kinh doanh và hợp tác xã chủ động hơn trong giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm.
Tại Lâm Đồng, Sở Công Thương thường xuyên tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm, kết nối cung cầu, tham gia hội nghị, hội chợ nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường. Công tác xúc tiến thương mại tại miền núi, vùng sâu, vùng xa cũng được đẩy mạnh thông qua các chương trình kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa và giới thiệu sản phẩm đặc trưng.
Một hướng đi khác là xây dựng các mô hình điểm mua bán hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng tại vùng núi, vùng sâu, vùng xa, xã đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Những mô hình này góp phần giúp người dân tiếp cận hàng hóa nhanh chóng, bảo đảm chất lượng, đồng thời vận động người tiêu dùng sử dụng hàng Việt.
Lâm Đồng cũng triển khai các chương trình hàng Việt về nông thôn, miền núi, vùng sâu để phục vụ nhu cầu của người dân. Trong thời gian tới, Sở Công Thương tỉnh dự kiến tiếp tục tập trung xúc tiến thương mại, kết nối mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm của khu vực vùng sâu, vùng xa.
Đáng chú ý, bên cạnh các chương trình, hội nghị, hội chợ, địa phương sẽ đẩy mạnh xúc tiến trên môi trường mạng, hỗ trợ chuyển đổi số trong kinh doanh, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng sản phẩm. Cùng với đó là tham mưu phát triển hạ tầng thương mại nông thôn như chợ, hệ thống phân phối, cửa hàng bán lẻ, từng bước hiện đại hóa mạng lưới phân phối.
Lâm Đồng cũng xác định hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tham gia quản lý hợp tác xã và ứng dụng công nghệ số trong quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh là một nội dung cần được quan tâm. Các hợp tác xã, tổ hợp tác và mô hình khởi nghiệp do phụ nữ tham gia quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp tại miền núi, vùng sâu, vùng xa sẽ được ưu tiên hỗ trợ, gắn với phát triển sản phẩm OCOP và sản phẩm chủ lực của tỉnh.
Nâng chuẩn sản phẩm, mở rộng không gian tiêu thụ
Tại Lạng Sơn, câu chuyện mở rộng đầu ra được đặt trong mối liên hệ giữa quảng bá, tổ chức phân phối, thương mại điện tử và lợi thế cửa khẩu.
Theo Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn Bùi Quốc Khánh, tỉnh hiện có trên 170 sản phẩm OCOP, trong đó có 9 sản phẩm đạt OCOP 4 sao, còn lại là sản phẩm OCOP 3 sao. Bên cạnh đó là nhiều nông sản đặc trưng như hoa hồi, na Chi Lăng cùng các sản phẩm đã có thương hiệu như vịt quay, rượu Mẫu Sơn.
Trong đó, na Chi Lăng là sản phẩm có quy mô lớn với gần 5.000 ha. Tuy nhiên, đặc tính chín rộ, khó bảo quản và vận chuyển khiến việc tiêu thụ vẫn gặp khó khăn. Vì vậy, theo lãnh đạo Sở Công Thương Lạng Sơn, tiếp tục quảng bá, giữ vững chất lượng, uy tín thương hiệu và tổ chức tốt hơn kết nối từ người sản xuất đến người tiêu dùng là những giải pháp quan trọng.
Để mở rộng đầu ra cho sản phẩm, Lạng Sơn xác định các sự kiện xúc tiến thương mại là hoạt động quan trọng. Trong đó, Chương trình “Sức sống hàng Việt” với không gian “Lạng Sơn Corner” tại Hà Nội tổ chức tháng 7 vừa qua được địa phương xác định là một cơ hội để đưa nông sản, đặc sản đến gần hơn với người tiêu dùng Thủ đô, qua đó mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.

Đáng chú ý, thương mại điện tử đang trở thành một kênh mới để Lạng Sơn mở rộng không gian tiêu thụ. Sở Công Thương tỉnh đã tổ chức các lớp tập huấn về bán hàng trên thương mại điện tử, hướng dẫn kỹ năng bao gói và kết nối với các đơn vị vận chuyển. Địa phương cũng tổ chức livestream bán na Chi Lăng với sự tham gia của lãnh đạo Sở và chính quyền địa phương. Qua đó, nhiều hộ sản xuất và hợp tác xã đã chủ động xây dựng kênh riêng để quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm.
Lợi thế cửa khẩu cũng được Lạng Sơn khai thác để thúc đẩy xuất khẩu nông sản. Trung bình mỗi ngày có khoảng 500 xe nông sản xuất khẩu qua địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, đối với sản phẩm của chính Lạng Sơn, số mặt hàng có sản lượng lớn và đủ điều kiện xuất khẩu vẫn chưa nhiều. Hoa hồi và thạch đen là hai sản phẩm có hoạt động xuất khẩu tương đối ổn định, trong khi nhiều sản phẩm khác mới ở quy mô nhỏ.
Với Cao Bằng, yêu cầu mở rộng đầu ra gắn chặt với việc nâng chuẩn và định vị thương hiệu sản phẩm. Theo chị Nguyễn Thị Hương Nhung, Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Cao Bằng, địa phương có gần 200 sản phẩm OCOP đạt 3 sao và 4 sao, cùng nhiều sản phẩm dược liệu dưới tán rừng và hàng thủ công do đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất.
Thông qua Chương trình “Sức sống hàng Việt” số 13 với chủ đề “Cao Bằng - Hương vị biên cương” tổ chức tháng 9/2026, địa phương mang hơn 100 sản phẩm đến giới thiệu và bán trực tiếp tại Hà Nội. Đây không chỉ là hoạt động quảng bá, tiêu thụ mà còn là cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các dự án của thanh niên tìm hiểu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và hoàn thiện sản phẩm.
Một khó khăn được Cao Bằng chỉ ra là phần lớn hộ kinh doanh, doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu hoạt động theo mô hình hộ gia đình. Tiêu chuẩn sản phẩm chưa đồng bộ, nhiều sản phẩm chưa có bộ nhận diện chung, khiến người tiêu dùng khó nhận biết và tìm mua đúng sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Vì vậy, địa phương hướng tới định vị rõ hơn thương hiệu sản phẩm Cao Bằng, làm rõ thế mạnh về chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và tìm kiếm những thị trường ngách phù hợp. Những sản phẩm có sản lượng không lớn nhưng chất lượng cao, an toàn và mang tính đặc trưng được xác định là một hướng để tạo dấu ấn riêng.
Thương mại điện tử cũng được Cao Bằng kỳ vọng trở thành không gian tiêu thụ mới. Tuy nhiên, địa phương nhìn nhận việc này còn hạn chế do nguồn hàng của nhiều cơ sở sản xuất chưa ổn định, trong khi bán hàng trên nền tảng số đòi hỏi nguồn cung phải đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Do đó, cùng với hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh đưa sản phẩm lên nền tảng số, Cao Bằng xác định cần tiếp tục đào tạo kỹ năng bán hàng, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và nâng cao năng lực sản xuất. Đoàn Thanh niên tỉnh cũng dự kiến phối hợp với các đơn vị tổ chức các khóa đào tạo về khởi nghiệp, quản trị, công nghệ và đưa các dự án của thanh niên tham gia những chương trình phù hợp.
Từ Lâm Đồng, Lạng Sơn đến Cao Bằng, cách tiếp cận có những điểm khác nhau nhưng đều hướng tới một mục tiêu: biến lợi thế bản địa thành giá trị thị trường. Muốn vậy, xúc tiến thương mại không chỉ dừng ở một hội chợ hay một phiên kết nối, mà cần được nối dài bằng thương hiệu, chất lượng, tiêu chuẩn, hạ tầng phân phối và năng lực bán hàng trên nền tảng số.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khi sản phẩm có đầu ra ổn định, câu chuyện không chỉ nằm ở doanh số. Đó còn là cơ hội để hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân mở rộng sản xuất, tạo việc làm, nâng thu nhập; đồng thời tạo thêm động lực để thanh niên trở về quê hương khởi nghiệp, phát triển sản xuất và đóng góp cho kinh tế - xã hội địa phương.

