A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thông tin đăng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ của Cục Phòng vệ thương mại

1. Tên nhiệm vụ: “Nghiên cứu thực trạng và xu hướng điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ và đề xuất giải pháp ứng phó cho Việt Nam” (Mã số: ĐTKHCN.087/25).

2. Tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương.

3. Chủ nhiệm nhiệm vụ và người tham gia chính: Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Nguyễn Đức Dũng. Người tham gia chính gồm: CN. Phan Chí Hiếu; CN. Đặng Xuân Tâm; ThS. Nguyễn Trang Nhung; ThS. Đặng Thu Trang

4. Mục tiêu của nhiệm vụ:

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng một hệ thống cơ sở lý luận vững chắc kết hợp đánh giá thực chứng khách quan các vụ việc thực tế để đề xuất giải pháp chính sách vĩ mô trình Chính phủ và công cụ quản trị vi mô cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ. Nhằm hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược này, đề tài xác lập sáu mục tiêu cụ thể bao gồm: Thứ nhất, hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết kinh tế học về rào cản thương mại và bản chất pháp lý của các mô hình lẩn tránh; Thứ hai, phân tích và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn của năm nền kinh tế lớn để rút ra bài học thích ứng cho Việt Nam; Thứ ba, phân tích sâu diễn biến, bản chất kỹ thuật và phán quyết của Hoa Kỳ đối với ba ngành hàng nhạy cảm; Thứ tư, đánh giá khách quan thực trạng năng lực và chính sách ứng phó của Chính phủ cùng khối doanh nghiệp; Thứ năm, thiết lập chỉ báo toán học đo lường rủi ro khởi xướng điều tra; Thứ sáu, xây dựng hệ thống giải pháp phân cấp có tính khả thi kỹ thuật cao cho cả khu vực công và khu vực tư.

5. Tóm tắt kết quả thực hiện nhiệm vụ

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu diễn biến phức tạp, xu hướng bảo hộ của Hoa Kỳ đã bước sang một giai đoạn mới khắt khe hơn: chuyển dịch trọng tâm từ các vụ kiện chống bán phá giá (AD) hay chống trợ cấp (CVD) truyền thống sang các đợt điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Dựa trên khung pháp lý tại Điều 781 Đạo luật Thuế quan 1930 của Hoa Kỳ (19 U.S.C. § 1677j), các cơ quan chức năng Mỹ không chỉ nhắm vào hành vi gian lận xuất xứ đơn thuần mà mở rộng truy xuất cấu trúc của toàn bộ chuỗi giá trị toàn cầu. Đứng trước nguy cơ ngày càng lớn đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, Đề tài đã phân tích sâu sắc bản chất pháp lý và thực tế từ các vụ việc điển hình để đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó mang tính chiến lược cho Việt Nam.

Đề tài tập trung phân tích cơ chế vận hành của quy trình điều tra cho thấy Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) phối hợp cùng Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP) thông qua Đạo luật EAPA/TFTEA để tạo nên cơ chế kiểm soát kép. Theo Điều 781(a)-(d), DOC thẩm định hàng hóa dựa trên 4 kịch bản chính: lắp ráp tại nước thứ ba, thay đổi không đáng kể đặc tính sản phẩm, phát triển sản phẩm thế hệ sau và chuyển tải bất hợp pháp. Khác với điều tra phòng vệ thương mại thông thường, điều tra chống lẩn tránh áp dụng nguyên tắc suy đoán thiệt hại tiếp diễn, nghĩa là Hoa Kỳ mặc định ngành sản xuất nội địa vẫn đang chịu tổn thất từ vụ việc gốc mà không cần Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) thực hiện lại quy trình đánh giá thiệt hại. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp bị điều tra không cung cấp được dữ liệu chứng minh tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa (VAV) đạt ngưỡng an toàn hoặc không minh bạch thông tin nguyên liệu đầu vào, DOC sẽ ngay lập tức kích hoạt cơ chế Dữ kiện sẵn có bất lợi (AFA) theo Điều 776(b), áp mức thuế phạt toàn quốc làm mất hoàn toàn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo kết quả nghiên cứu, thực tiễn điều tra thời gian qua đối với các mặt hàng trọng điểm như thép (thép cán nguội CRS, thép tôn mạ CORE), gỗ dán dán cứng (hardwood plywood) và pin năng lượng mặt trời (solar cells/modules) đã minh chứng rõ cho xu hướng siết chặt này. Điểm chung của các vụ việc là sự tăng trưởng nhanh chóng về kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ trong thời gian ngắn, đi kèm với việc phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu thô hoặc bán thành phẩm (phôi thép HRC, tấm gỗ cốt veneer, bánh xốp silicon wafer) nhập khẩu từ các quốc gia đang bị Mỹ áp thuế gốc. DOC đã mở rộng quy mô điều tra ra phạm vi toàn quốc và thiết lập cơ chế tự chứng nhận (self-certification) rất phức tạp. Việc yêu cầu doanh nghiệp phải truy xuất nguồn gốc ngược dòng đến tận các nhà cung cấp cấp 2, cấp 3 (tier-2, tier-3) đã đặt ra thách thức vượt quá khả năng ứng phó của mô hình gia công, lắp ráp đơn thuần vốn chỉ dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ.

Đánh giá thực trạng nội tại, Đề tài đã chỉ ra những rào cản thể chế và hạn chế về hạ tầng đang tồn tại ở cả hai cấp độ. Ở cấp độ quản lý nhà nước, mặc dù Hệ thống cảnh báo sớm (Đề án 824) và công tác ngoại giao thương mại qua cơ chế TIFA đã phát huy vai trò định hướng, nhưng sự phân tán dữ liệu giữa Hải quan và Bộ Công Thương vẫn tạo ra độ trễ từ 30 đến 45 ngày trong việc phát hiện các biến động thương mại bất thường. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt hành vi gian lận xuất xứ hiện nay chưa đủ sức răn đe. Ở cấp độ doanh nghiệp, ngoại trừ một số tập đoàn lớn đã chủ động tích hợp dòng sản xuất thượng nguồn, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) vẫn đối mặt với lỗ hổng nghiêm trọng về kế toán quản trị: không bóc tách giá thành theo mã sản phẩm, hệ thống ERP phân tán, sổ sách không đáp ứng chuẩn mực quốc tế và tâm lý né tránh đóng góp kinh phí đại tụng. Đây chính là nguyên nhân cốt lõi khiến doanh nghiệp thất bại khi DOC tiến hành thẩm tra tại chỗ.

Để chuyển từ thế thụ động sang chủ động quản trị rủi ro, Đề tài đề xuất nhóm giải pháp tái cấu trúc mang tính thực tiễn cao. Đối với Chính phủ, nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý thông qua việc sửa đổi Nghị định 98/2020/NĐ-CP để xử lý hình sự hành vi gian lận xuất xứ; xây dựng Trục liên thông dữ liệu Hải quan - PVTM tự động theo thời gian thực kết nối qua API; áp dụng bộ lọc tiêu chí suất đầu tư và công nghệ để sàng lọc các dự án FDI rủi ro; đồng thời thiết lập cơ chế tham vấn tiền khởi xướng thông qua kênh đàm phán TIFA. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, nhiệm vụ cấp bách là chuẩn hóa hệ thống dữ liệu kế toán đến từng công đoạn sản xuất, kiểm toán nghiêm ngặt các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, và chủ động phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng (VSA, VIFOREST,...) xây dựng Quỹ phòng vệ pháp lý dùng chung.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu khẳng định rằng làn sóng điều tra chống lẩn tránh của Hoa Kỳ không đơn thuần là một rào cản kỹ thuật ngắn hạn, mà là thách thức lớn đối với toàn bộ năng lực sản xuất của Việt Nam. Việc nâng cao chuyên môn và tuân thủ các chuẩn mực pháp lý quốc tế không chỉ dừng lại ở mục tiêu né thuế trước mắt, mà chính là động lực bắt buộc để ngành xuất khẩu Việt Nam thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp, làm chủ chuỗi cung ứng và xác lập vị thế cạnh tranh độc lập, bền vững trên thị trường quốc tế.

6. Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2025 đến tháng 5 năm 2026.

7. Kinh phí thực hiện: 455 triệu đồng, trong đó kinh phí từ ngân sách nhà nước là 507 triệu đồng; kinh phí từ nguồn khác: 0 đồng.

Thông tin được công bố theo khoản 2 Điều 24 Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN về công bố thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

 


Nguồn:Cục Phòng vệ thương mại Copy link

Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website