Bộ Công Thương mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số
Tăng cường giải pháp tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những định hướng được Bộ Công Thương đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết số 88/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025 - 2027.
Mở rộng không gian thị trường cho sản phẩm vùng cao
Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng được nhận diện trên thị trường trong nước. Các sản phẩm như na Lạng Sơn, miến dong Quảng Ninh, sâm Lai Châu, sâm Ngọc Linh… đã định vị được trên thị trường và ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, bài toán quan trọng hiện nay không chỉ là đưa sản phẩm đến hội chợ, triển lãm hay các điểm bán, mà phải tạo được doanh số ổn định, đơn hàng lặp lại và quan hệ thương mại dài hạn. Đây cũng là định hướng được Bộ Công Thương đặt ra trong quá trình triển khai Nghị quyết số 88/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2025 - 2027.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, thời gian qua, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, truyền thông và phát triển các mô hình thương mại hai chiều, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được nhận diện rộng hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, thước đo hiệu quả cần được thay đổi. Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được nhận diện rộng hơn, nhưng thước đo hiệu quả cần chuyển từ số lượng sản phẩm được trưng bày sang doanh số ổn định, đơn hàng lặp lại và quan hệ thương mại dài hạn.
Đây là sự chuyển dịch đáng chú ý trong cách tiếp cận thị trường. Bởi thực tế, một sản phẩm có mặt tại nhiều hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm đó đã có thị trường. Khả năng duy trì đơn hàng, đáp ứng yêu cầu của nhà phân phối và giữ chân người mua mới là yếu tố quyết định sức sống của sản phẩm.

Từ góc độ thị trường trong nước, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước xác định 5 không gian thị trường cần được ưu tiên khai thác.
Trước hết là hệ thống phân phối hiện đại tại các đô thị và trung tâm tiêu dùng lớn. Đây là thị trường có sức mua cao nhưng cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về chất lượng, bao bì, dữ liệu và khả năng bảo đảm nguồn cung.
Tiếp đó là thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng bán hàng đa kênh. Không gian số mở ra cơ hội đặc biệt đối với sản phẩm ở vùng xa khi khoảng cách địa lý được thu hẹp. Sản phẩm không chỉ được bán trực tiếp tới người tiêu dùng mà còn có thể kể câu chuyện về nguồn gốc, bản sắc văn hóa thông qua hình ảnh, video và dữ liệu được xác thực.
Thứ ba là thị trường gắn với du lịch văn hóa và trải nghiệm. Các điểm du lịch cộng đồng, khách sạn, nhà hàng, sân bay, ga tàu, điểm dừng chân, bảo tàng hay trung tâm văn hóa có thể trở thành những điểm đưa sản phẩm địa phương tiếp cận người tiêu dùng. Tại đây, giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở công năng mà còn được cộng hưởng bởi câu chuyện bản địa và trải nghiệm văn hóa.
Thứ tư là phân khúc quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và tiêu dùng có trách nhiệm. Đây là những phân khúc mà người mua quan tâm không chỉ đến chất lượng mà còn chú ý tới môi trường, sinh kế cộng đồng và bản sắc văn hóa.
Cuối cùng là thị trường tại chỗ và thương mại hai chiều ở miền núi, biên giới. Phát triển thị trường không thể chỉ được hiểu là đưa đặc sản từ miền núi xuống đô thị, mà còn phải đưa hàng Việt chất lượng cao, hàng hóa thiết yếu với giá cả hợp lý đến với người dân miền núi, vùng nông thôn và biên giới.
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh, không phải sản phẩm nào cũng cần bán đại trà hoặc phải bằng mọi giá đưa vào hệ thống siêu thị. Điều quan trọng hơn là lựa chọn đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện của từng sản phẩm.
Từ “cánh cửa” xúc tiến đến đơn hàng bền vững
Một trong những vấn đề được Bộ Công Thương nhìn nhận là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay: có sản phẩm nhưng chưa đồng nghĩa với có đơn hàng thường xuyên.
Ông Lê Đức Hải, Giám đốc, Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng (Lạng Sơn) chia sẻ, tháng 7 vừa rồi, HTX được Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn mở gian hàng số trên Tiktok Shop để nhiều người ở những nơi xa biết đến hơn, ngoài những kênh phân phối đang sử dụng như Zalo, Facebook. HTX cũng tặng card điện thoại, móc khóa… để khách hàng nhớ đến sản phẩm khi mua.
“Về tiêu thụ sản phẩm, hiện HTX đang gặp một số khó khăn trong việc kết nối với các kênh tiêu thụ. Vì vậy, tôi mong muốn HTX có thể kết nối được với các chuỗi tiêu thụ ổn định. Như tôi đã chia sẻ, bên cạnh việc vận động các thành viên tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, HTX cũng mong muốn xây dựng được một bộ nhận diện riêng, để khi khách hàng cầm sản phẩm trên tay có thể nhận biết ngay đó là sản phẩm của HTX Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng”, ông Lê Đức Hải chia sẻ.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, câu chuyện của HTX Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng là một ví dụ điển hình. Mong muốn của HTX không chỉ là được giới thiệu sản phẩm mà cần có lượng đơn hàng ổn định, thường xuyên. Để đạt được điều đó, hoạt động xúc tiến thương mại đơn thuần là chưa đủ.
Từ phía nhà cung cấp, hợp tác xã phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Chất lượng có đồng đều không? Sản lượng có đáp ứng được không? Có cần tập trung vào một số giống, một số sản phẩm mà thị trường cần nhất hay không? Giao bao nhiêu, thời điểm nào, theo hình thức nào? Bao bì 3 kg, 5 kg hay 10 kg có được chuẩn hóa hay chưa?
“Muốn có đầu ra ổn định, HTX phải chuẩn hóa đồng bộ từ chất lượng, sản lượng, chủng loại, thời điểm giao hàng đến quy cách đóng gói, đồng thời có đầy đủ dữ liệu, chứng từ, truy xuất và khả năng điều chỉnh theo phản hồi thị trường”, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn phân tích.

Trên cơ sở đó, thời gian tới, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước dự kiến ưu tiên 6 nhóm giải pháp.
Một là đổi mới kết nối cung - cầu theo hướng chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi. Trước khi kết nối, sản phẩm sẽ được sàng lọc theo yêu cầu của từng kênh bán hàng. Sau kết nối, cơ quan quản lý sẽ theo dõi đơn hàng thử, khả năng tái đặt hàng, các vấn đề về giao nhận và chất lượng để cùng doanh nghiệp, HTX hoàn thiện hồ sơ, cải thiện sản phẩm và từng bước đưa vào phân phối bền vững.
Hai là phát huy vai trò của nhà phân phối. Các tập đoàn, siêu thị, chuỗi bán lẻ, doanh nghiệp du lịch và nền tảng số cần tham gia sớm hơn, cung cấp thông tin về quy cách, giá cả, sản lượng và yêu cầu giao hàng, thay vì chỉ tiếp nhận sản phẩm ở khâu cuối.
Ba là hỗ trợ chuyển đổi số theo hướng thiết thực. Các hoạt động như gian hàng số, nội dung số, quản trị tồn kho, đơn hàng, thanh toán, dữ liệu khách hàng, livestream hay sử dụng KOL được triển khai để hỗ trợ sản phẩm tiếp cận người mua. Tuy nhiên, hệ thống vận hành phía sau mới là yếu tố quyết định khách hàng có quay lại hay không.
Bốn là nâng chuẩn sản phẩm và củng cố niềm tin người tiêu dùng, từ an toàn, nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến bao bì. Đồng thời, quá trình chuẩn hóa cũng cần giữ được bản sắc riêng của sản phẩm bản địa, tránh việc công nghiệp hóa một cách máy móc.
Năm là tổ chức lại logistics theo vùng, hướng tới hình thành các điểm gom, sơ chế, đóng gói, kho phù hợp, lịch vận chuyển chung và liên kết với mạng lưới bưu chính, logistics, bán lẻ. Mục tiêu là giảm chi phí trên từng đơn vị hàng hóa và tăng phần giá trị giữ lại cho người sản xuất.
Sáu là đổi mới cách đánh giá hiệu quả chính sách. Thay vì chỉ tính số lượng sự kiện, sản phẩm hay lượt tham gia, kết quả cần được đo bằng tỷ lệ sản phẩm duy trì trên kệ, đơn hàng lặp lại, tăng trưởng doanh thu, mức giảm chi phí, số việc làm và thu nhập tăng thêm tại cộng đồng.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, nếu triển khai đồng bộ, thị trường sẽ phát tín hiệu rõ ràng để các chủ thể sản xuất có căn cứ đầu tư; hệ thống phân phối có nguồn hàng tin cậy; người tiêu dùng có thêm lựa chọn chất lượng; đồng thời cộng đồng có thêm sinh kế để tiếp tục gìn giữ, sáng tạo và trao truyền các giá trị văn hóa.
Mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là câu chuyện “đưa hàng đi xa hơn”. Quan trọng hơn là xây dựng một chuỗi thị trường đủ bền để sản phẩm có thể quay lại với người mua, tạo đơn hàng lặp lại và giữ lại ngày càng nhiều giá trị cho cộng đồng sản xuất.

