Ngành dệt may thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững
Từ tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu tái chế đến kiểm kê phát thải và truy xuất nguồn gốc, nhiều doanh nghiệp dệt may đang từng bước đưa các mục tiêu của Quyết định số 889/QĐ-TTg vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Xanh hóa sản xuất để đáp ứng yêu cầu thị trường
Quyết định số 889/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 đã xác định nhiều định hướng quan trọng, nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng theo hướng hiệu quả, thân thiện với môi trường.

Quyết định 889 đặt mục tiêu giảm từ 7-10% mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu của một số ngành sản xuất chính, trong đó có ngành dệt may.
Trong đó, Chương trình đặt trọng tâm vào quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu; khuyến khích phát triển các nguồn tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu và sản phẩm thân thiện môi trường, có thể tái tạo, tái sử dụng và tái chế; thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững trên nền tảng đổi mới, sáng tạo, hướng đến phát triển kinh tế tuần hoàn.
Đáng chú ý, đối với giai đoạn đến năm 2030, Quyết định 889 đặt mục tiêu giảm từ 7-10% mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu của một số ngành sản xuất chính, trong đó có ngành dệt may.
Hưởng ứng Chương trình, nhiều doanh nghiệp đã chủ động thay đổi phương thức sản xuất, sử dụng tiết kiệm năng lượng, tăng cường ứng dụng năng lượng tái tạo, lựa chọn nguyên liệu thân thiện với môi trường và từng bước kiểm soát lượng phát thải. Đây không chỉ là giải pháp góp phần bảo vệ môi trường mà còn là sự chuẩn bị cần thiết để doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường, đặc biệt tại những thị trường xuất khẩu lớn.
Dệt may là một trong những ngành chịu nhiều sức ép từ các tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu giảm phát thải tại các thị trường xuất khẩu. Trước xu hướng này, Tổng Công ty May 10 đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xanh hóa hoạt động sản xuất, từ tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo đến kiểm kê phát thải khí nhà kính. Doanh nghiệp cũng đẩy mạnh số hóa hoạt động sản xuất để phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm; đồng thời ưu tiên sử dụng nguyên, phụ liệu có khả năng tái sử dụng và nguyên liệu hữu cơ.
Trao đổi với phóng viên, ông Thân Đức Việt - Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10 cho biết, dù ngành dệt may chưa thuộc nhóm phải thực hiện nghĩa vụ mua tín chỉ carbon đối với sản phẩm xuất khẩu sang châu Âu, doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị từ sớm.
“Từ đầu năm 2026, những sản phẩm xuất khẩu sang châu Âu đều phải mua tín chỉ carbon, 6 nhóm ngành đó là phân bón, hóa chất, sắt thép, xi măng... Đối với May 10 thì chưa phải chịu nhưng đã có những bước chuẩn bị với 5 nội dung chính: Thứ nhất là tập trung vào câu chuyện sử dụng tiết kiệm năng lượng; thứ hai là sử dụng nhiều hơn năng lượng tái tạo; thứ ba là đã thực hiện báo cáo kiểm kê phát thải khí nhà kính hàng năm trong 3 năm trở lại đây; thứ tư là số hóa toàn bộ hoạt động sản xuất để có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm; thứ năm, chúng tôi sử dụng những nguyên, phụ liệu có thể tái sử dụng được và nguyên liệu hữu cơ”, ông Thân Đức Việt thông tin.
Việc chủ động kiểm kê phát thải, tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo và số hóa hoạt động sản xuất giúp doanh nghiệp từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản trị, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu của đối tác.
Đây cũng là những nội dung phù hợp với Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, trong đó xác định nhiệm vụ thúc đẩy sản xuất sạch hơn, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững; phát triển và nhân rộng các mô hình sử dụng bền vững tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu và năng lượng tái tạo trong các ngành công nghiệp.

Doanh nghiệp dệt may đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xanh hóa hoạt động sản xuất, từ tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo đến kiểm kê phát thải khí nhà kính.
Năng lượng sạch trở thành yêu cầu của chuỗi cung ứng
Không chỉ từng doanh nghiệp, yêu cầu chuyển đổi xanh đang ngày càng rõ nét đối với toàn ngành dệt may. Theo ông Nguyễn Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty May Việt Tiến, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồng Tiến, doanh nghiệp dệt may Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng “sản xuất xanh”, “sản xuất thông minh”.
Thực tế, các nhãn hàng đang đặt ra yêu cầu cao về trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc, sử dụng nguyên phụ liệu tái chế và năng lượng sạch. Đặc biệt, thị trường còn đặt ra yêu cầu cam kết sử dụng 100% năng lượng tái tạo trong chuỗi cung ứng. Trong khi đó, ngành dệt may có nhu cầu sử dụng năng lượng lớn nhưng nhiều cơ sở sản xuất lại có quy mô nhỏ và phân tán.
Nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo vì vậy đến từ cả yêu cầu nội tại của doanh nghiệp và sức ép từ thị trường. Theo ông Nguyễn Văn Hoàng, mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp cần hướng tới sự cân bằng giữa “Con người - Hành tinh - Lợi nhuận”, đồng thời đáp ứng định hướng giảm phát thải và mục tiêu Net Zero.
Hiện doanh nghiệp dệt may đang tiếp cận năng lượng tái tạo thông qua một số phương thức như tự đầu tư điện mặt trời áp mái, sử dụng chứng chỉ năng lượng tái tạo I-REC hay nghiên cứu cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Theo đó, I-REC đã được một số doanh nghiệp sử dụng từ những năm 2020 để đáp ứng yêu cầu của khách hàng về giảm phát thải.
Đối với DPPA, ông Nguyễn Văn Hoàng đánh giá, đây có thể là một giải pháp tốt để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu Net Zero về CO2. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn đặt ra nhiều vấn đề đối với nhóm doanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ, phụ tải điện thấp và phân tán, từ khả năng kết nối lưới điện, lựa chọn nhà cung cấp đến chi phí mua điện.
Những chuyển động từ doanh nghiệp cho thấy sản xuất và tiêu dùng bền vững trong ngành dệt may đang dần được cụ thể hóa bằng các hoạt động trực tiếp trong nhà máy: tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, tăng sử dụng năng lượng tái tạo, kiểm kê phát thải, số hóa truy xuất nguồn gốc và lựa chọn nguyên liệu có khả năng tái sử dụng. Đây cũng chính là hướng mà Quyết định số 889/QĐ-TTg đặt ra khi yêu cầu thúc đẩy sản xuất sạch hơn, phát triển mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng các yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững trong chuỗi cung ứng.

