Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực trực tiếp nâng năng lực tự chủ ngành Công Thương
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trực tiếp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành Công Thương.
Động lực quan trọng phát triển ngành Công Thương
Giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng của ngành Công Thương theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Cạnh tranh công nghệ, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển dịch năng lượng, yêu cầu giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bền vững đang làm thay đổi nhanh phương thức sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước trong toàn ngành.

Doanh nghiệp là trung tâm, đồng thời là chủ thể xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ
Bên cạnh đó, giai đoạn 2021-2025, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của ngành đã từng bước bám sát yêu cầu tái cơ cấu công nghiệp và thương mại; nhiều chương trình về công nghệ cao, năng suất chất lượng, công nghiệp sinh học, phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị và sản xuất thông minh đã được hình thành. Năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ của một số viện, trường, doanh nghiệp được cải thiện; sự tham gia của doanh nghiệp trong đặt hàng và tiếp nhận kết quả từng bước tăng lên.
Tuy nhiên, nguồn lực còn phân tán; tỷ lệ nhiệm vụ hình thành được chuỗi liên tục từ nghiên cứu đến sản xuất và thị trường chưa cao; năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược còn hạn chế; cơ sở dữ liệu, hạ tầng nghiên cứu thử nghiệm và cơ chế sử dụng chung chưa đồng bộ; liên kết doanh nghiệp - viện trường chưa bền vững; việc đo lường kết quả, hiệu quả và tác động chưa dựa đầy đủ trên dữ liệu. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn về vốn, nhân lực, tiêu chuẩn, khả năng hấp thụ và quản trị công nghệ.
Trước yêu cầu từ thực tiễn, ngày 28/10/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2841/QĐ-BCT về Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành Công Thương giai đoạn 2026-2030. Kế hoạch này cụ thể hóa Kế hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2026-2030, Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành Công Thương đến năm 2030, các chương trình chuyên ngành đã được phê duyệt và nhiệm vụ phát triền công nghệ chiến lược được giao cho Bộ Công Thương; đồng thời bám sát định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ được nêu trong dự thảo Chiến lược phát triển ngành Công Thương đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và thiết lập một khung quản trị thống nhất để lựa chọn, tổ chức thực hiện, giám sát và điều chỉnh danh mục chương trình, nhiệm vụ hằng năm.
Kế hoạch nêu rõ quan điểm: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trực tiếp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành Công Thương; tập trung giải quyết các bài toán lớn của công nghiệp, năng lượng và thương mại, tạo đóng góp đo lường được đối với tăng trưởng; lấy con người làm trung tâm phục vụ, gắn với xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, an toàn và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Việc lựa chọn mục tiêu và danh mục nhiệm vụ phải tuân theo chuỗi logic: Mục tiêu phát triển ngành - bài toán lớn - nhu cầu công nghệ - công nghệ chiến lược/công nghệ ưu tiên - sản phẩm, mô hình hoặc dịch vụ - địa chỉ ứng dụng và thị trường. Các mục tiêu vĩ mô của ngành là chỉ tiêu tham chiếu để đánh giá tác động, không quy kết toàn bộ kết quả thực hiện các mục tiêu này cho riêng Kế hoạch.
Doanh nghiệp là trung tâm, đồng thời là chủ thể xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả. Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, đặt hàng, hỗ trợ hạ tầng và chia sẻ rủi ro hợp lý; viện, trường là chủ thể nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tri thức.
Bên cạnh đó, tập trung nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm cho công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và các công nghệ tạo chuyển biến nhanh về năng suất, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; tránh dàn trải, trùng lặp và đầu tư khép kín theo từng đơn vị; triển khai đồng bộ các chương trình, đề án, kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ.
Đồng thời, tổ chức hoạt động theo chuỗi từ bài toán - công nghệ - sản phẩm - tiêu chuẩn - sở hữu trí tuệ - thị trường; lấy mức độ làm chủ công nghệ, khả năng ứng dụng, thương mại hóa, nhân rộng và tác động thực tiễn làm thước đo chủ yếu. Kết hợp năng lực nội sinh với tiếp thu tri thức toàn cầu; đẩy mạnh hợp tác quốc tế theo hướng cùng nghiên cứu, cùng phát triển, chuyển giao thực chất và gắn với đào tạo nhân lực, nội địa hóa, tiêu chuẩn hóa và mở rộng thị trường. Quản trị Kế hoạch dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình; áp dụng bộ chỉ tiêu đầu vào - đầu ra - kết quả - tác động, quản lý theo vòng đời, cổng quyết định tiếp tục/dừng và đánh giá độc lập đối với chương trình, nhiệm vụ quan trọng.
Kế hoạch đã xác định mục tiêu đến năm 2030, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực quan trọng phát triển ngành Công Thương, hướng tới việc thực hiện ba trụ cột phát triển ngành: Một là, nâng cấp nền sản xuất và chuỗi giá trị công nghiệp. Hai là, bảo đảm an ninh năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và chuyển dịch xanh.
Ba là, hiện đại hóa thương mại, logistics và quản trị chuỗi cung ứng trên nền tảng số; nâng cao rõ rệt năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, làm chủ, phát triển và thương mại hóa công nghệ; thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sản xuất thông minh và chuyển đổi xanh; hình thành các chuỗi công nghệ - sản phẩm - thị trường đối với một số sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển đồng bộ nhân lực, hạ tầng, dữ liệu, tiêu chuẩn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của ngành, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả nghiên cứu và thương mại hóa
Đáng chú ý, Kế hoạch đã vạch ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Đó là, cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật: Đóng góp quan trọng trong quá trình tham mưu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và hệ thống TCVN, QCVN của ngành Công Thương.

Thúc đẩy chuyển đổi số và sản xuất thông minh trong doanh nghiệp
Cùng với đó, đóng góp vào tăng trưởng và năng suất: Góp phần duy trì tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp bình quân 7,5%/năm; nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng công nghiệp lên khoảng 55%; hỗ trợ nâng tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao, giá trị gia tăng và năng lực xuất khẩu của ngành.
Tổ chức danh mục nhiệm vụ thống nhất theo ba bài toán lớn và 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược được giao Bộ Công Thương tại Quyết định số 808/QĐ-TTg và Kế hoạch triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg; các sản phẩm được lựa chọn triển khai có lộ trình công nghệ, doanh nghiệp dẫn dắt hoặc địa chỉ tiếp nhận, yêu cầu tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, dữ liệu và kế hoạch nguồn lực; hình thành một số nguyên mẫu, dây chuyền thử nghiệm quy mô pilot/bán công nghiệp và mô hình trình diễn có khả năng mở rộng quy mô, chuyển giao và thương mại hóa.
Hỗ trợ tối thiểu 200 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến; triển khai đồng bộ các mục tiêu của Chương trình sản xuất thông minh, chuyển đổi số, Chương trình năng suất chất lượng và các chương trình đổi mới công nghệ; tăng tỷ lệ nhiệm vụ ứng dụng có doanh nghiệp tham gia từ khâu đặt hàng đến tiếp nhận kết quả.
Đáng chú ý, nâng cao hiệu quả nghiên cứu và thương mại hóa: Các nhiệm vụ chủ yếu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và có kết quả được ứng dụng hoặc có địa chỉ tiếp nhận; tối thiểu 50% kết quả có khả năng chuyển giao; tối thiểu 30% kết quả được chuyển giao hoặc thương mại hóa; tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu phù hợp được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Mặt khác, thúc đẩy chuyển đổi số và sản xuất thông minh: Hoàn thiện khung kiến trúc, bộ chỉ số và công cụ đánh giá; đào tạo tối thiểu 1.000 lượt doanh nghiệp, 100 chuyên gia tư vấn; đánh giá mức độ sẵn sàng cho tối thiểu 500 doanh nghiệp và hỗ trợ triển khai giải pháp cho tối thiều 200 doanh nghiệp theo Quyết định số 2708/QĐ-ВСТ.
Phát triển, trình diễn và nhân rộng công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; năng lượng mới, lưu trữ năng lượng, nhiên liệu phát thải thấp, CCUS, sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn, quản lý carbon, truy xuất nguồn gốc và hộ chiếu số sản phẩm; ưu tiên các giải pháp có chỉ số giảm năng lượng, nguyên liệu, phát thải và chi phí được kiểm chứng.
Về phát triển tiềm lực và hạ tầng chất lượng, Kế hoạch đặt ra mục tiêu, nâng cao năng lực hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ; hướng tới hình thành phòng thí nghiệm, thử nghiệm chuyên ngành có năng lực hiện đại và đạt ISO/IЕС 17025; các đơn vị nghiên cứu có cơ sở sản xuất thực nghiệm, trung tâm tư vấn/chuyền giao hoặc doanh nghiệp khởi nguồn; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ sau đại học đạt tối thiểu 50%, trong đó tiến sĩ trên 10%.
Tại Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành Công Thương giai đoạn 2026-2030 nêu: 100% nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quản lý, theo dõi toàn trình trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; cập nhật đầy đủ vòng đời nhiệm vụ; thực hiện đánh giá giữa kỳ, đánh giá tác động, công khai thông tin phù hợp và gắn kết quả với phân bổ nguồn lực.
Huy động nguồn lực và cơ cấu đầu tư
Kế hoạch của Bộ Công Thương cũng chỉ rõ định hướng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ưu tiên phục vụ phát triển ngành Công Thương gồm: Nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ công tác tham mưu, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật; phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên; thúc đẩy sản xuất thông minh, chuyển đổi số và thương mại số; phát triển công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy thương mại hóa và thị trường công nghệ.

Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ trong ngành Công Thương
Trong nhóm các giải pháp, Bộ Công Thương đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế và đổi mới quản trị chương trình, nhiệm vụ. Theo đó, rà soát, đề xuất sửa đổi hoặc ban hành theo thẩm quyền cơ chế, chính sách về đặt hàng, cùng đầu tư, giao quyền kết quả, tài sản trí tuệ, thử nghiệm có kiểm soát, mua sắm và sử dụng sản phẩm công nghệ trong nước; bảo đảm thống nhất với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các luật có liên quan.
Tái cấu trúc danh mục nhiệm vụ theo bài toán lớn, chuỗi giá trị và nhóm sản phẩm; giảm nhiệm vụ quy mô nhỏ, rời rạc; hình thành cụm nhiệm vụ liên ngành có tổng công trình sư/chủ nhiệm chương trình và doanh nghiệp dẫn dắt. Thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá nhiệm vụ theo các bước: Xác nhận bài toán và thị trường; xác nhận giải pháp, nguyên mẫu; xác nhận thử nghiệm - tiêu chuẩn; xác nhận thương mại hóa, nhân rộng; kịp thời điều chỉnh, hợp nhất hoặc chấm dứt nhiệm vụ không đạt ngưỡng.
Hồ sơ nhiệm vụ công nghệ xác định mức độ sẵn sàng công nghệ, mức độ sẵn sàng sản xuất (TRL/MRL) ban đầu và mục tiêu; mỗi nhiệm vụ có một mã định danh duy nhất, hạch toán theo một chương trình hoặc một nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược chính, bảo đảm không cộng trùng kết quả và kinh phí.
Giải pháp tiếp theo là huy động nguồn lực và cơ cấu đầu tư. Cụ thể, bố trí nguồn lực theo nguyên tắc ngân sách nhà nước dẫn dắt, doanh nghiệp và xã hội cùng đầu tư; dành tối thiểu 15% tổng chi sự nghiệp khoa học cho nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược theo định hướng của Kế hoạch tổng thể quốc gia. Ưu tiên ngân sách cho nghiên cứu ứng dụng, phát triển và thử nghiệm công nghệ có địa chỉ sử dụng; đồng thời bảo đảm nguồn lực hợp lý cho nghiên cứu nền tảng, khoa học chính sách, tiêu chuẩn, dữ liệu, nhân lực và hạ tầng dùng chung.
Khuyến khích tỷ lệ đối ứng phù hợp mức rủi ro: Nhiệm vụ nghiên cứu sớm có thể được Nhà nước hỗ trợ chủ yếu; nhiệm vụ thí điểm, trình diễn yêu cầu doanh nghiệp đồng tài trợ; nhiệm vụ mở rộng quy mô, thương mại hóa huy động doanh nghiệp và thị trường là chính, trừ trường hợp đặc thù theo quy định.
Ưu tiên xem xét, bố trí ngân sách để chuyển tiếp sang giai đoạn hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm, thương mại hóa đối với nhiệm vụ có kết quả tốt, có doanh nghiệp cam kết phối hợp hoặc tiếp nhận, trên cơ sở kết quả đánh giá giai đoạn trước; có cơ chế lồng ghép nguồn kinh phí phù hợp đối với nhiệm vụ liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.
Bên cạnh đó là các giải pháp: Phát triển hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, dữ liệu và hạ tầng chất lượng; phát triển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; truyền thông, phổ biến tri thức và phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo
| Tại Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành Công Thương giai đoạn 2026-2030 nêu: 100% nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quản lý, theo dõi toàn trình trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; cập nhật đầy đủ vòng đời nhiệm vụ; thực hiện đánh giá giữa kỳ, đánh giá tác động, công khai thông tin phù hợp và gắn kết quả với phân bổ nguồn lực. |

