A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Logistics Việt Nam: Từ Chiến lược đến cơ hội bứt phá

Tại Diễn đàn Logistics Việt Nam 2026 tổ chức ở Gia Lai ngày 7/11, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, phát triển logistics trong giai đoạn tới cần được đánh giá bằng khả năng tạo thêm và giữ lại giá trị tại Việt Nam.

Từ định hướng chiến lược đến những chuyển động thực chất

Năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục chịu sức ép từ xung đột địa chính trị, điều chỉnh chính sách thương mại và biến động năng lượng. Những rủi ro trên các tuyến hàng hải quốc tế có thể tác động đến giá nhiên liệu, bảo hiểm, khả năng huy động tàu và lịch giao hàng. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chi phí logistics vì thế không chỉ nằm ở giá cước vận chuyển mà còn bao gồm phụ phí, thời gian chờ và nguồn vốn bị giữ trong hàng tồn kho.

Trong nước, nhu cầu lưu chuyển hàng hóa tiếp tục mở rộng. Theo số liệu được ông Trần Thanh Hải dẫn từ Cục Thống kê, GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD. Quốc hội đã xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% một năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Điều này đặt ra yêu cầu logistics phải đáp ứng sự gia tăng của sản xuất, thương mại, đồng thời kiểm soát thời gian giao hàng, chất lượng dịch vụ và áp lực lên hạ tầng.

Ông Trần Thanh Hải phát biểu tại diễn đàn

Trên cơ sở Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trọng tâm năm 2026 là mở rộng năng lực khai thác, phát triển thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Một trong những hướng đi đáng chú ý là Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030 (GoGlobal), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 626/QĐ-TTg ngày 6/4/2026. Bộ Công Thương đã ban hành chương trình hành động triển khai vào tháng 6/2026. Đối với ngành logistics, chương trình mở thêm hướng hỗ trợ doanh nghiệp phát triển hiện diện ở nước ngoài, tiếp cận đối tác và nâng cao năng lực kinh doanh quốc tế.

Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển mạng lưới giao nhận, kho hàng và phân phối tại thị trường đích, hàng hóa xuất khẩu sẽ có thêm điều kiện tiếp cận khách hàng tốt hơn. Đồng thời, doanh nghiệp trong nước có cơ hội gia tăng doanh thu từ những dịch vụ vốn có thể được cung cấp bởi các nhà cung cấp nước ngoài.

Cùng với thể chế, hạ tầng logistics đang có những bước chuyển đáng kể. Trong chín tháng đầu năm 2026, cả nước đưa vào khai thác thêm 395 km đường cao tốc, nâng tổng chiều dài tuyến chính đã hoàn thành đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật lên 3.345 km. Mạng lưới này mở rộng khả năng tổ chức vận tải liên vùng, bố trí kho và điều hành phương tiện trên các hành trình dài.

Ở lĩnh vực hàng hải, việc đưa bốn bến số 3, 4, 5 và 6 tại Lạch Huyện vào hoạt động từ năm 2025 đã nâng số bến nước sâu tại đây từ hai lên sáu. Riêng bến số 3, 4 có công suất thiết kế khoảng 1,1 triệu TEU mỗi năm; bến số 5, 6 của Hateco được phát triển để tiếp nhận tàu container cỡ 18.000 TEU. Đây là nền tảng để miền Bắc phát triển các tuyến vận tải biển trực tiếp, mở thêm phương án vận chuyển cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Tại miền Trung, bến số 1, số 2 cảng Mỹ Thủy và Cảng tổng hợp quốc tế Hòn La giai đoạn 1 cũng đã đưa vào khai thác. Những đầu mối này bổ sung lựa chọn cửa ngõ ra biển cho khu vực, đặc biệt trong kết nối các hành lang thương mại với Lào.

Trong lĩnh vực hàng không, hàng hóa thông qua các cảng hàng không trong 10 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 1,6 triệu tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Long Thành giai đoạn 1 có công suất thiết kế 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, đang được hoàn thiện để hướng tới khai thác thương mại từ tháng 12/2026.

Tuy nhiên, theo ông Trần Thanh Hải, đầu tư hạ tầng mới chỉ là điều kiện cần. Hiệu quả khai thác còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức nguồn hàng, đường kết nối và dịch vụ phù hợp với từng nhóm hàng. Một cảng biển có năng lực tiếp nhận tàu lớn sẽ phát huy hiệu quả khi có đủ nguồn hàng và các tuyến vận tải ổn định; một trung tâm logistics cần có năng lực điều phối, xử lý hàng và kết nối vận tải chứ không chỉ dừng ở diện tích kho bãi.

Doanh nghiệp Việt nắm cơ hội gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng

Cùng với thể chế và hạ tầng, năng lực của doanh nghiệp là yếu tố quyết định khả năng bứt phá của ngành logistics. Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước phát triển hệ thống dịch vụ tích hợp, mở rộng quy mô khai thác và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng quốc tế.

Trong sáu tháng đầu năm 2026, Gemadept công bố doanh thu thuần đạt 3.214 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ; tổng sản lượng khai thác vượt 2,57 triệu TEU. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam có khả năng phát triển hệ thống cảng và dịch vụ trên nhiều địa bàn, tổ chức khai thác ở quy mô lớn và tiếp tục thu hút vốn để mở rộng năng lực.

Trong logistics phục vụ sản xuất, THILOGI phát triển chuỗi dịch vụ gồm vận tải đường bộ, kho bãi, thủ tục, khai thác cảng và vận tải biển. Với hơn 650 phương tiện chuyên dụng theo công bố năm 2026, doanh nghiệp tổ chức vận chuyển từ Tây Nguyên, các tỉnh phía Nam và hành lang Việt Nam - Lào - Campuchia, gắn với đầu tư container lạnh, depot và bãi lạnh.

Cách tổ chức này giúp chủ hàng có một đầu mối phối hợp các chặng vận chuyển, chủ động hơn khi sản lượng nông sản biến động theo mùa vụ.

Ở phân khúc hàng hóa công nghệ, yêu cầu của khách hàng cũng vượt ra ngoài khả năng cung cấp diện tích kho. Tháng 6/2026, Vietnam SuperPort công bố đạt chứng nhận an ninh cơ sở TAPA FSR Hạng A, tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu tiếp nhận hàng có giá trị cao, kiểm soát ra vào, bảo vệ hàng hóa và quản trị rủi ro.

Những ví dụ này cho thấy doanh nghiệp trong nước đã có những nền tảng quan trọng để đảm nhận các mắt xích trong chuỗi cung ứng. Vấn đề tiếp theo là tăng khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp, giúp chủ hàng sử dụng được chuỗi dịch vụ ổn định trên nhiều địa bàn. Doanh nghiệp lớn có thể tổ chức mạng lưới; doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia bằng những dịch vụ chuyên sâu, am hiểu ngành hàng và thị trường địa phương.

Một hướng phát triển khác là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tại cảng Tân Cảng - Cái Mép Thị Vải, từ ngày 7/7/2026, tính năng vào sổ tàu trực tuyến trên ePort được triển khai, giúp khách hàng thực hiện thủ tục từ xa và tạo dữ liệu để các bộ phận phối hợp xử lý.

Tại Công viên Logistics Viettel Lạng Sơn, hệ thống cổng thông minh với 11 làn xe sử dụng camera quét 3D, tự động thu thập dữ liệu phương tiện và nhận diện sinh trắc học tài xế. Camera AI hỗ trợ giám sát, cảnh báo và điều tiết phương tiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý luồng xe tại cửa khẩu.

Chuyển đổi xanh cũng đã được cụ thể hóa bằng đầu tư phương tiện và năng lượng. Công ty Hào Hưng tại Quảng Ngãi đầu tư 42 xe đầu kéo điện phục vụ vận tải hàng hóa tại khu vực cảng; Giao Hàng Nặng đưa 25 xe van điện tải trọng 945 kg vào vận hành tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Gemadept công bố hệ thống điện mặt trời áp mái 4,8 MWp tại Trung tâm phân phối lạnh Mekong Logistics và 1,15 MWp tại cảng nước sâu Gemalink.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cần được tính toán theo điều kiện khai thác thực tế, từ giá phương tiện, nguồn điện, trạm sạc đến thời gian vận hành và sản lượng hàng hóa. Đầu tư công nghệ phải gắn với hiệu quả kinh tế, tránh vượt quá nhu cầu khai thác.

Đáng chú ý, cơ hội bứt phá của logistics Việt Nam còn nằm ở việc hình thành các hành lang kết nối vùng sản xuất với cảng biển và thị trường quốc tế. Tại Tây Nguyên, hành lang Lệ Thanh - Pleiku - Quy Nhơn có khả năng kết nối cửa khẩu, vùng nguyên liệu và cảng biển. Với cà phê, hồ tiêu, cao su và trái cây, yêu cầu trực tiếp là chủ động lịch thu gom, đóng hàng, cấp container rỗng và lịch tàu, hạn chế thời gian chờ đợi khi vào vụ.

Trong khi đó, kết nối từ Quảng Ngãi với Dung Quất, vùng sản xuất phía Tây và cửa khẩu Bờ Y có thể phát triển dịch vụ phục vụ cả công nghiệp lẫn thương mại biên giới. Lâm Đồng có nhu cầu logistics đa dạng, từ cà phê, chè, rau, hoa, cây ăn quả đến hàng công nghiệp và vật liệu tại khu vực ven biển.

Theo ông Trần Thanh Hải, muốn phát triển những chuỗi dịch vụ này cần gắn kết vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, kho bảo quản, đơn vị vận tải và cảng biển. Với nông sản tươi, lịch thu hái, yêu cầu thị trường, năng lực cơ sở đóng gói và phương án vận chuyển phải được tính toán đồng thời. Các doanh nghiệp vận tải, kho và chủ hàng cũng cần thống nhất lịch nhận hàng, chứng từ, thủ tục quá cảnh, kiểm dịch và trách nhiệm giao nhận.

Để hiện thực hóa cơ hội, ông Trần Thanh Hải đề xuất ưu tiên hoàn thiện các đoạn kết nối vùng sản xuất, trung tâm logistics, cửa khẩu và cảng biển đã có nguồn hàng; tăng xử lý thủ tục điện tử, thống nhất dữ liệu trao đổi trước khi hàng đến; gắn GoGlobal với các chuỗi xuất khẩu cụ thể và hỗ trợ doanh nghiệp logistics trong nước liên kết để đủ năng lực thực hiện hợp đồng trọn gói.

Đồng thời, cần phát triển nhân lực gắn với vận hành công nghệ mới, tạo điều kiện tiếp cận vốn và hạ tầng cho các dự án chuyển đổi xanh có phương án khai thác hiệu quả.

Từ Chiến lược đến cơ hội bứt phá, thước đo cuối cùng của logistics Việt Nam không chỉ là quy mô hạ tầng hay sản lượng hàng hóa thông qua, mà là khả năng tổ chức những chuỗi dịch vụ hiệu quả, giúp hàng hóa giữ được chất lượng, giao hàng đúng hạn và doanh nghiệp Việt Nam gia tăng phần giá trị được hưởng. Đó cũng là nền tảng để logistics thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

 


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website