Phát huy sức mạnh thị trường nội địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Chiều 16/9 tại Hà Nội, Báo Công Thương đã tổ chức toạ đàm Phát huy sức mạnh thị trường nội địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Sức mua tăng, nhưng dư địa thị trường còn rất lớn
Thị trường nội địa đang cho thấy những tín hiệu tích cực khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng năm 2026 tăng 13,3%, theo con số của Cục Thống kê – Bộ Tài chính. Đằng sau mức tăng trưởng này là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố, từ các chương trình xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại điện tử đến chính sách tài khóa, chính sách thuế và sự chuyển dịch mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng.

Từ góc độ quản lý nhà nước, chia sẻ tại toạ đàm, bà Lê Thị Hồng, Chuyên viên cao cấp, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương cho rằng, các chương trình xúc tiến thương mại trong nước và hoạt động kích cầu tiêu dùng bước đầu phát huy hiệu quả. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương, các địa phương, Sở Công Thương đã tích cực triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu; đồng thời kết hợp phát triển du lịch với tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa đặc sản địa phương, nhất là vào những dịp cao điểm như Tết Nguyên đán, kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5 và Quốc khánh 2/9.
Cùng với đó, thương mại điện tử ngày càng phát huy vai trò trong hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa trong nước. Việc đổi mới phương thức hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận người tiêu dùng cả về không gian và thời gian đã góp phần thúc đẩy nhu cầu mua sắm, gia tăng sức cầu thị trường.
Chính sách tài khóa của Chính phủ theo hướng mở rộng có kiểm soát cũng đang phát huy tác dụng. Việc đẩy mạnh đầu tư công, giải ngân vốn đầu tư công góp phần kích thích nhu cầu đối với một số nhóm hàng hóa, đồng thời hỗ trợ tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người lao động, qua đó tăng sức mua và thúc đẩy tiêu dùng trong nước.
Các chính sách thuế tiếp tục được triển khai, trong đó có việc duy trì giảm thuế giá trị gia tăng đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ và điều chỉnh ngưỡng doanh thu phải nộp thuế đối với hộ kinh doanh. Những chính sách này góp phần giảm chi phí, giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng tiếp cận hàng hóa của người tiêu dùng, qua đó hỗ trợ kích cầu.
Ở góc độ doanh nghiệp bán lẻ, bà Trần Thị Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, nhìn nhận mức tăng trưởng 13,3% của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 8 tháng đầu năm cho thấy sức mua đang phục hồi và tăng trưởng tích cực.
Đáng chú ý, hành vi tiêu dùng cũng đang thay đổi mạnh. Người tiêu dùng chuyển từ mua sắm tràn lan sang lựa chọn có trọng tâm hơn, tập trung vào những nhóm hàng thiết yếu, chăm sóc sức khỏe và thân thiện với môi trường. Cùng với đó là xu hướng mua sắm đa kênh, kết hợp giữa thương mại điện tử và các kênh bán hàng truyền thống.
Sự gia tăng của tiêu dùng gắn với trải nghiệm cũng đang thể hiện rõ qua mức tăng của dịch vụ ăn uống và du lịch. Điều này cho thấy thị trường nội địa không đơn thuần là câu chuyện bán hàng hóa, mà ngày càng gắn với dịch vụ, trải nghiệm và những phương thức tiêu dùng mới.
Ở phía sản xuất, ông Hoàng Thế Nhu, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10 - CTCP, cũng ghi nhận tín hiệu tích cực từ sức mua trong nước. Với thị trường hơn 100 triệu dân, doanh nghiệp nhìn nhận đây là thị trường có tiềm năng và tiếp tục dành nguồn lực để phát triển. Những diễn biến trên cho thấy sức mua nội địa đang được tiếp sức từ nhiều phía. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và cơ quan quản lý, vấn đề quan trọng hơn nằm ở việc làm thế nào để chuyển sức mua đó thành một động lực tăng trưởng có tính bền vững.
Gỡ điểm nghẽn, nâng sức cạnh tranh hàng Việt
Dù có nhiều tín hiệu tích cực, thị trường nội địa vẫn tồn tại những điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn phát huy đầy đủ vai trò là động lực tăng trưởng. Theo bà Lê Thị Hồng, hệ thống phân phối hiện còn phân mảnh, thiếu liên kết; năng lực logistics phục vụ thị trường còn hạn chế. Điều này khiến thị trường dễ bị tổn thương, thậm chí có nguy cơ đứt gãy trước những tác động từ bên ngoài, nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới liên tục biến động.
Hạ tầng thương mại cũng phát triển chưa đồng đều. Trong khi khu vực đô thị đã có những bước phát triển, địa bàn nông thôn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, dù đây là khu vực có tiềm năng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thị trường nội địa.
Một điểm đáng lưu ý khác là kênh phân phối truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Vì vậy, quá trình hiện đại hóa và chuyển đổi số hệ thống phân phối gặp không ít trở ngại.
Trong khi đó, thương mại điện tử phát triển nhanh nhưng còn phụ thuộc lớn vào các nền tảng nước ngoài. Theo bà Lê Thị Hồng, sự phụ thuộc này có thể tạo ra sự bị động nhất định đối với hoạt động phân phối trong nước, bởi các doanh nghiệp và hoạt động phân phối có thể chịu tác động từ chính sách của các công ty mẹ ở nước ngoài.
Từ góc độ chuyên gia, TS Trịnh Thị Thanh Thuỷ, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách Công Thương cho rằng, một trong những điểm quan trọng cần giải quyết là năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và khả năng xây dựng thương hiệu.
Thực tế cho thấy, một số ngành hàng xuất khẩu có thế mạnh như thủy sản, dệt may, da giày vẫn chưa khai thác tương xứng thị trường trong nước. Theo bà Lê Thị Hồng, không ít doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vẫn coi thị trường nội địa như một “vùng an toàn” khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, thay vì coi đây là một thị trường mục tiêu. Đây là cách tiếp cận cần thay đổi.
Với quy mô hơn 100 triệu dân và thu nhập bình quân đầu người theo số liệu thống kê đã đạt hơn 5.000 USD/năm, thị trường nội địa được đánh giá có tiềm năng lớn. Vì vậy, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở việc kích thích người dân mua sắm nhiều hơn, mà còn ở việc đưa nhiều hơn những sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt vào hệ thống phân phối trong nước.
Từ năm 2025, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã tổ chức các hoạt động kết nối giữa những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có thế mạnh như thủy sản, dệt may, da giày với các doanh nghiệp phân phối, hướng tới mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước.
Mục tiêu được đặt ra là thay đổi tư duy của doanh nghiệp: thị trường trong nước phải được coi là thị trường mục tiêu, chứ không phải “vùng an toàn” khi xuất khẩu gặp khó khăn.
Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với sản xuất. Hàng Việt không thể chỉ dựa vào việc vận động người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm trong nước, mà phải chinh phục người tiêu dùng bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế.
Theo TS Trịnh Thị Thanh Thuỷ, kinh nghiệm từ thị trường Nhật Bản cho thấy sản phẩm phục vụ thị trường nội địa có thể được thiết kế phù hợp với điều kiện địa lý, văn hóa và tâm lý tiêu dùng của chính thị trường đó. Từ góc độ này, bài toán của hàng Việt không chỉ là sản xuất được sản phẩm, mà còn phải hiểu người tiêu dùng Việt Nam và tạo ra sản phẩm phù hợp.
Niềm tin của người tiêu dùng đối với hàng Việt cũng là một vấn đề được đặt ra. Theo chuyên gia, không thể quy trách nhiệm cho riêng doanh nghiệp, hệ thống phân phối hay công tác quản lý. Những điểm nghẽn này cần được nhìn nhận trong mối liên kết của cả chuỗi. Đó là chuỗi từ sản xuất đến nhà phân phối, logistics và cuối cùng là người tiêu dùng.
Cùng với năng lực cạnh tranh, thương hiệu, chất lượng và liên kết chuỗi, một yếu tố khác được TS Trịnh Thị Thanh Thuỷ nhấn mạnh là năng lực dự báo cung - cầu. Trong thời đại số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cơ sở dữ liệu và dự báo có vai trò quan trọng đối với các nhà sản xuất. Khi tín hiệu thị trường được truyền tải đầy đủ và kịp thời tới doanh nghiệp, sản xuất sẽ có cơ sở để điều chỉnh theo nhu cầu thực tế. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế tình trạng sản xuất chưa sát nhu cầu hoặc thiếu hàng khi thị trường phát sinh nhu cầu.
Với doanh nghiệp, những yêu cầu này đang được chuyển hóa thành các khoản đầu tư cụ thể. Ông Hoàng Thế Nhu cho biết Tổng Công ty May 10 tiếp tục đầu tư nguồn lực về con người và tài chính cho thị trường trong nước, trong đó chú trọng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.
Doanh nghiệp hiện có đội ngũ thiết kế hơn 20 người và tổng nhân sự phòng thiết kế hơn 100 người, đồng thời đa dạng hóa nguồn hàng, các dòng sản phẩm và phân khúc để đáp ứng nhu cầu trong nước. Chất lượng cũng được kiểm soát từ nguyên liệu, phụ liệu đến các khâu sản xuất và dịch vụ khách hàng. Doanh nghiệp kiểm tra nguyên liệu đầu vào, trong đó có các yếu tố liên quan đến an toàn và dư lượng hóa chất.
Để nâng sức cạnh tranh, yếu tố giá cũng được chú trọng thông qua đầu tư công nghệ mới, tự động hóa và áp dụng các giải pháp số hóa trong quản trị, sản xuất và bán hàng nhằm giảm chi phí. Song song với đó là mở rộng hệ thống cửa hàng offline trên toàn quốc và đầu tư cho thương mại điện tử.
Từ phía quản lý nhà nước, các giải pháp trước mắt cũng được đặt trong mối quan hệ giữa kích cầu và xây dựng sức mua bền vững. Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước tiếp tục triển khai xúc tiến thương mại, các chương trình kích cầu, trong đó có “Sức sống hàng Việt”.
Điểm đáng chú ý là chương trình không chỉ hướng tới doanh số trong các phiên livestream, mà còn nhằm giới thiệu thương hiệu, sản phẩm hàng hóa của địa phương tới người tiêu dùng, qua đó tạo ra những khách hàng lâu dài cho sản phẩm.
Cùng với đó là các giải pháp kiểm soát lạm phát, giá cả, điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý; kiểm tra, kiểm soát thị trường để củng cố niềm tin về chất lượng và uy tín hàng hóa.
Các địa phương được định hướng triển khai xúc tiến thương mại có chọn lọc, trọng tâm vào những nhóm hàng có sức tiêu thụ còn hạn chế như một số nhóm hàng tiêu dùng, phương tiện đi lại và hàng tiêu dùng lâu bền. Các chương trình khuyến mại tập trung quy mô lớn cũng được định hướng triển khai, gắn với xúc tiến thương mại trên phạm vi rộng.
Về dài hạn, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã xây dựng Chiến lược phát triển thị trường trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thay thế chiến lược giai đoạn trước, phù hợp với xu hướng và định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng.
Trọng tâm là đổi mới mô hình tăng trưởng của thị trường trong nước gắn với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao trong hạ tầng thương mại, logistics, phương thức bán hàng và thương mại điện tử; hướng tới phát triển các sàn thương mại điện tử có nguồn gốc Việt Nam.
Cùng với đó là mở rộng không gian tiêu thụ thông qua hệ thống outlet, giao dịch hàng hóa phái sinh, phát triển kinh tế ban đêm, kinh tế ngầm và khai thác không gian ngầm để phát triển hạ tầng thương mại.
Một hướng tiếp cận quan trọng khác là đổi mới chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, gắn chặt hơn với sản xuất. Theo bà Lê Thị Hồng, trong giai đoạn mới, cách tiếp cận không chỉ là vận động người tiêu dùng lựa chọn hàng Việt, mà phải hướng tới việc hàng Việt chinh phục người Việt. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sản xuất những sản phẩm phù hợp với thị hiếu và khả năng tiêu thụ của người Việt Nam.
Như vậy, phát huy sức mạnh thị trường nội địa không chỉ là câu chuyện làm cho người dân mua sắm nhiều hơn. Đó là quá trình củng cố cả một hệ sinh thái từ sản xuất, phân phối, logistics, thương mại điện tử đến tiêu dùng; từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến niềm tin của người tiêu dùng.
Khi sức mua được kết nối với năng lực sản xuất, khi hàng Việt đáp ứng tốt hơn nhu cầu người Việt và khi các điểm nghẽn của hệ thống phân phối từng bước được tháo gỡ, thị trường nội địa sẽ có thêm nền tảng để phát huy vai trò trong tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

