Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó các biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp chính tại một số thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
1. Tên nhiệm vụ: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp chính tại một số thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam” (Mã số: ĐTKHCN.066/25).
2. Tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương.
3. Chủ nhiệm nhiệm vụ và người tham gia chính: Chủ nhiệm nhiệm vụ: CN. Đỗ Thị Sa. Người tham gia chính gồm: ThS. Nguyễn Hằng Nga; Ths. Nguyễn Thị Vân; CN. Phạm Bùi Thu Hà; CN. Trần Thị Chi; CN. Phùng Thị Kiều Anh.
4. Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu, phân tích quy định pháp luật, thực tiễn, xu hướng điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp trên thế giới, phân tích thực tiễn các vụ việc mà một số thị trường xuất khẩu đã điều tra phòng vệ thương mại với sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chính của Việt Nam và bài học kinh nghiệm, kinh nghiệm một số quốc gia trong ứng phó các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp và bài học rút ra cho Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả ứng phó các vụ việc phòng vệ thương mại có thể xảy ra trong tương lai đối với sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.
5. Kết quả thực hiện nhiệm vụ (tóm tắt):
Đề tài được triển khai trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) ngày càng được các quốc gia sử dụng phổ biến nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước, trong khi xuất khẩu nông sản tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cùng với việc thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đã mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho nông sản Việt Nam, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ bị điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và các biện pháp phòng vệ thương mại khác tại nhiều thị trường xuất khẩu. Trên cơ sở kết hợp nghiên cứu lý luận, phân tích chính sách pháp luật, tổng hợp thực tiễn các vụ việc, khảo sát doanh nghiệp và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã làm rõ thực trạng, đánh giá năng lực ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ứng phó với các vụ việc PVTM đối với sản phẩm nông nghiệp trong thời gian tới.
Thứ nhất, đề tài đã nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích toàn diện cơ sở pháp lý, thực tiễn và xu hướng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp trên thế giới. Nghiên cứu đã đánh giá điều kiện sản xuất, năng lực cạnh tranh và tiềm năng xuất khẩu của các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Việt Nam; đồng thời phân tích các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp này tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm. Đề tài tập trung nghiên cứu khung pháp luật, quy trình điều tra, thực tiễn áp dụng và xu hướng sử dụng các biện pháp PVTM của Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU). Kết quả nghiên cứu cho thấy các thị trường này đang có xu hướng tăng cường sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại kết hợp với các yêu cầu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và phát triển bền vững, làm gia tăng áp lực đối với doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
Thứ hai, đề tài đã nghiên cứu, phân tích thực tiễn các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tại một số thị trường chủ lực, đồng thời đánh giá năng lực ứng phó của doanh nghiệp thông qua khảo sát và thu thập thông tin thực tế. Nghiên cứu tập trung phân tích các vụ việc do Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Ấn Độ tiến hành điều tra đối với một số nhóm hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình tham gia điều tra, cung cấp thông tin, phối hợp với cơ quan điều tra và xử lý các yêu cầu về chứng cứ. Kết quả khảo sát cho thấy nhận thức của doanh nghiệp về phòng vệ thương mại đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều doanh nghiệp đã chủ động phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội ngành hàng trong quá trình xử lý vụ việc.
Thứ ba, đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia có nhiều thành công trong ứng phó các vụ việc phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Ma-lai-xi-a. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù cách thức triển khai có sự khác biệt giữa các quốc gia, song đều có những điểm chung quan trọng là xây dựng cơ chế cảnh báo sớm hiệu quả; hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ phục vụ điều tra; tăng cường vai trò điều phối của hiệp hội ngành hàng; hỗ trợ doanh nghiệp thông qua tư vấn pháp lý, đào tạo chuyên sâu và chia sẻ thông tin; đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp. Từ những kinh nghiệm quốc tế này, đề tài đã rút ra nhiều bài học có giá trị đối với Việt Nam, đặc biệt là yêu cầu chuyển từ tư duy xử lý vụ việc khi đã phát sinh sang chủ động phòng ngừa rủi ro và nâng cao năng lực ứng phó ngay từ giai đoạn trước điều tra.
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng gia tăng các vụ việc phòng vệ thương mại và những cơ hội, thách thức đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam, đề tài đã đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại trong thời gian tới. Đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, đề tài kiến nghị tiếp tục hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về các vụ việc phòng vệ thương mại, tăng cường công tác dự báo, hỗ trợ pháp lý và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài. Đối với các hiệp hội ngành hàng, cần phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý; tăng cường chia sẻ thông tin, tổ chức đào tạo, tư vấn chuyên sâu, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuẩn bị hồ sơ và tham gia các vụ việc điều tra. Đối với doanh nghiệp, cần chủ động xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu, chuẩn hóa hồ sơ kế toán và truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực tuân thủ các quy định của thị trường nhập khẩu, bố trí nguồn nhân lực chuyên trách về phòng vệ thương mại, đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nhằm giảm thiểu rủi ro bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác xây dựng, hoàn thiện chính sách về phòng vệ thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp; đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược phòng ngừa, nâng cao năng lực ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại, góp phần duy trì tăng trưởng xuất khẩu nông sản theo hướng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
6. Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2025 đến tháng 5 năm 2026.
7. Kinh phí thực hiện: 600 triệu đồng, trong đó kinh phí từ ngân sách nhà nước là 600 triệu đồng; kinh phí từ nguồn khác: 0 đồng.
Thông tin được công bố theo khoản 2 Điều 24 Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN về công bố thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

