Xây dựng hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, kết nối liên tục
Xúc tiến thương mại số đang mở rộng phương thức tiếp cận thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu về dữ liệu, hạ tầng công nghệ và năng lực kết nối liên tục cho doanh nghiệp.
Hoạt động xúc tiến thương mại đang chuyển dần từ phương thức kết nối chủ yếu thông qua hội chợ, triển lãm, hội nghị giao thương sang mô hình kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Trong đó, nền tảng số không chỉ là công cụ giới thiệu sản phẩm mà còn mở ra khả năng duy trì kết nối, tìm kiếm đối tác và phát triển cơ hội hợp tác sau mỗi chương trình xúc tiến thương mại.
Định hướng này đã được đặt ra tại Quyết định số 1968/QĐ-TTg ngày 22/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2021-2030. Sau những bước triển khai ban đầu, yêu cầu hiện nay không chỉ là mở rộng ứng dụng công nghệ mà còn phải hình thành hệ sinh thái xúc tiến thương mại số có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu hiệu quả.

Ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương
Không dừng ở kết nối trực tuyến
Theo ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, xúc tiến thương mại số không phải là phương thức mới được triển khai trong thời gian gần đây. Hoạt động này đã được đặt ra từ giai đoạn 2020-2021 và phát huy vai trò rõ nét trong thời kỳ dịch Covid-19, khi các hoạt động giao thương trực tiếp gặp nhiều hạn chế.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm đối tác trên môi trường số. Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của phương thức này không chỉ nằm ở khả năng tổ chức các hoạt động trực tuyến, mà còn ở việc duy trì quan hệ giao thương sau khi chương trình xúc tiến thương mại kết thúc.
“Việc ứng dụng xúc tiến thương mại trên môi trường số có điểm khác biệt là sau khi các hoạt động xúc tiến thương mại diễn ra, doanh nghiệp tham gia trên nền tảng vẫn có thể tiếp tục kết nối giao thương với nhau và tiến tới các hoạt động hợp tác sản xuất, kinh doanh”, ông Tạ Mạnh Cường phân tích.
Đây là thay đổi đáng chú ý trong cách thức tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại. Với phương thức truyền thống, cơ hội gặp gỡ và trao đổi thường tập trung trong khoảng thời gian diễn ra hội chợ, triển lãm hoặc hội nghị giao thương. Sau chương trình, việc duy trì liên hệ và chuyển hóa những cuộc gặp thành hợp đồng, đơn hàng phụ thuộc nhiều vào khả năng chủ động của doanh nghiệp.
Trong khi đó, nền tảng số tạo điều kiện để thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm và nhu cầu hợp tác tiếp tục được lưu trữ, cập nhật và khai thác. Doanh nghiệp có thể tìm kiếm đối tác ngoài phạm vi thời gian tổ chức sự kiện, đồng thời tiếp cận thêm những cơ hội kết nối mà phương thức trực tiếp khó đáp ứng đầy đủ.
Tuy nhiên, ông Cường cũng lưu ý, ứng dụng công nghệ không đồng nghĩa với việc thay thế hoàn toàn hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống. Vấn đề là phải kết hợp hai phương thức để bổ trợ cho nhau, trong đó hoạt động trực tiếp tạo điều kiện gặp gỡ, trao đổi và đánh giá đối tác, còn nền tảng số giúp duy trì tương tác và mở rộng khả năng kết nối.
Như vậy, hiệu quả xúc tiến thương mại không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng hội chợ, hội nghị hay doanh nghiệp tham gia một chương trình, mà cần quan tâm đến khả năng duy trì kết nối và thúc đẩy hợp tác sau đó. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xúc tiến thương mại chuyển từ cách tổ chức hoạt động theo từng chương trình riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới kết nối thường xuyên trên môi trường số.
Dữ liệu quyết định chất lượng kết nối
Để nền tảng số thực sự trở thành công cụ hỗ trợ phát triển thị trường, dữ liệu doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Bởi công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và có khả năng cập nhật thường xuyên.
Theo ông Tạ Mạnh Cường, đối với các doanh nghiệp tham gia nền tảng xúc tiến thương mại số, yêu cầu trước hết là phải xây dựng cơ sở dữ liệu cụ thể, minh bạch.
“Bản thân các doanh nghiệp phải có một cơ sở dữ liệu cụ thể, minh bạch, như chúng ta vẫn thường nói là ‘sạch, đúng, đủ’. Có như vậy, dữ liệu khi tham gia các nền tảng xúc tiến thương mại mới luôn được duy trì và kết nối thường xuyên, liên tục”, ông Cường nhấn mạnh.
Yêu cầu này cho thấy chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại không đơn thuần là đưa thông tin sản phẩm lên môi trường trực tuyến. Doanh nghiệp cần chuẩn hóa dữ liệu về năng lực sản xuất, danh mục sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận, thị trường đã tiếp cận và nhu cầu hợp tác. Đây là những thông tin quan trọng để đối tác có cơ sở đánh giá, lựa chọn và tiến tới giao dịch.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần bố trí nhân sự theo dõi, cập nhật và quản lý thông tin trên hệ thống. Nếu dữ liệu chỉ được khai báo một lần rồi không tiếp tục bổ sung, những thay đổi về sản phẩm, năng lực cung ứng hay nhu cầu thị trường sẽ không được phản ánh kịp thời. Khi đó, nền tảng dù được đầu tư hiện đại cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả kết nối.
Ở chiều ngược lại, các cơ quan và tổ chức xúc tiến thương mại cần đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ, từ phần cứng đến phần mềm, đồng thời duy trì việc cập nhật, bảo đảm hệ thống vận hành ổn định và an toàn thông tin.
“Đối với các tổ chức xúc tiến thương mại, cần đầu tư duy trì, vận hành không chỉ hệ thống phần cứng mà cả phần mềm, phải liên tục cập nhật để bảo đảm hệ thống hoạt động thông suốt, an toàn và bảo mật thông tin”, ông Cường chia sẻ.
Đáng chú ý, khi số lượng doanh nghiệp và dữ liệu thị trường tham gia ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là lưu trữ thông tin mà còn phải khai thác được giá trị từ nguồn dữ liệu này. Theo ông Cường, các cơ quan, tổ chức xúc tiến thương mại cần xây dựng hệ thống dữ liệu lớn (Data Warehouse), qua đó lưu trữ thông tin doanh nghiệp và ứng dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ tìm kiếm thông tin thị trường, sản phẩm mà doanh nghiệp có nhu cầu.
“Các cơ quan, tổ chức xúc tiến thương mại cần xây dựng một hệ thống dữ liệu lớn để bảo đảm dữ liệu doanh nghiệp được lưu trữ và ứng dụng các công cụ AI trong tìm kiếm thông tin về thị trường cũng như sản phẩm mà doanh nghiệp cần”, ông Cường cho biết.
Từ yêu cầu này, dữ liệu không chỉ phục vụ hoạt động quản lý mà còn có thể trở thành công cụ hỗ trợ kết nối thị trường. Khi được tổ chức và khai thác hiệu quả, thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm và nhu cầu giao thương sẽ giúp quá trình tìm kiếm đối tác có cơ sở hơn, giảm phụ thuộc vào phương thức kết nối thủ công.
Đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn
Bên cạnh hạ tầng và dữ liệu, hệ sinh thái xúc tiến thương mại số chỉ có thể vận hành hiệu quả khi có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xúc tiến thương mại, địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp.
Theo ông Tạ Mạnh Cường, Nhà nước đã từng bước xây dựng hành lang pháp lý phục vụ hoạt động trên môi trường điện tử, từ chữ ký số, hợp đồng điện tử đến thanh toán qua các phương tiện hiện đại. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tiễn, cần có sự tham gia của hệ thống cơ quan xúc tiến thương mại từ Trung ương đến địa phương nhằm hỗ trợ doanh nghiệp triển khai và khai thác các công cụ số.
Trong đó, cơ quan xúc tiến thương mại không chỉ tổ chức các chương trình kết nối mà cần tăng cường vai trò cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa dữ liệu, tiếp cận nền tảng và tìm kiếm đối tác phù hợp. Các địa phương cần chủ động nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp, ngành hàng để xây dựng hoạt động hỗ trợ sát với thực tế sản xuất, kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp, yêu cầu quan trọng là thay đổi nhận thức và đầu tư nguồn nhân lực đáp ứng phương thức xúc tiến thương mại mới. Công nghệ thay đổi nhanh chóng, kéo theo những thay đổi trong cách thức tìm kiếm khách hàng, tiếp cận thị trường và tổ chức hoạt động kinh doanh.
“Nhận thức của doanh nghiệp rất quan trọng. Nguồn nhân lực cần được thường xuyên, liên tục đào tạo và cập nhật để nắm bắt những xu hướng mới, công nghệ mới, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn thông tin khi tham gia môi trường số”, ông Cường nhấn mạnh
Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình triển khai xúc tiến thương mại số. Bởi nếu chỉ đầu tư nền tảng mà doanh nghiệp thiếu nhân lực vận hành, không có dữ liệu đạt chuẩn hoặc chưa biết cách khai thác công nghệ, hiệu quả kết nối sẽ khó đạt như kỳ vọng.
Xây dựng hệ sinh thái xúc tiến thương mại số vì thế không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý hay đơn vị cung cấp nền tảng công nghệ. Đây là quá trình đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể, từ hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa dữ liệu đến nâng cao năng lực doanh nghiệp.
Khi các yếu tố này được kết nối, hoạt động xúc tiến thương mại sẽ không còn bị giới hạn trong khuôn khổ từng hội chợ, triển lãm hay chương trình giao thương, mà có thể trở thành quá trình kết nối thường xuyên, liên tục. Qua đó, doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác và chuyển hóa cơ hội giao thương thành những hợp tác kinh doanh thực chất.

