A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển logistics khu vực phía Nam: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Phát triển logistics tại các địa phương khu vực phía Nam đứng trước cơ hội bứt phá, song cần tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, giảm chi phí và tăng liên kết vùng để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Gỡ điểm nghẽn, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Sở hữu hệ thống cảng biển, sân bay, cửa khẩu quốc tế và các trung tâm công nghiệp lớn, khu vực phía Nam có nhiều điều kiện để phát triển logistics, kết nối sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, những hạn chế trong kết nối hạ tầng, chi phí vận chuyển và tổ chức chuỗi cung ứng đang khiến lợi thế này chưa được khai thác tương xứng. Bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô hạ tầng, mà còn phải hình thành mạng lưới logistics liên vùng đồng bộ, vận hành hiệu quả và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp.

Tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026, diễn ra ngày 22/10 tại TP. Hồ Chí Minh, phát triển logistics trở thành một trong những nội dung được các địa phương tập trung thảo luận. Từ thực tiễn công nghiệp, thương mại biên giới đến xuất khẩu nông thủy sản, các tham luận cho thấy logistics đang giữ vai trò quan trọng đối với hiệu quả sản xuất, lưu thông hàng hóa và năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

Theo ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Công Thương thành phố Đồng Nai, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ vận tải mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh. Theo số liệu được địa phương dẫn tại hội nghị, chi phí logistics của doanh nghiệp trên địa bàn và vùng phía Nam dao động khoảng 14–16% GDP, cao hơn mức bình quân thế giới 10,6%. Những nguyên nhân chủ yếu là tình trạng ùn tắc cục bộ trên một số tuyến giao thông, sự thiếu đồng bộ giữa vận tải đường bộ, đường thủy và đường sắt, trong khi hệ thống kho bãi còn phân tán.

Áp lực lên hệ thống logistics càng rõ khi nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Trong 9 tháng năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua địa bàn Đồng Nai đạt khoảng 75 triệu tấn, tăng 11,2% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải và kho bãi tăng 11,03%.

Với hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải, cảng Phước An và sân bay Long Thành, Đồng Nai có cơ hội hình thành trung tâm logistics đa phương thức. Tuy nhiên, nếu kết nối giữa các đầu mối này chưa được cải thiện, lưu lượng hàng hóa gia tăng sẽ tiếp tục tạo áp lực lên hạ tầng hiện hữu. Điều đó cho thấy đầu tư vào các công trình riêng lẻ chưa đủ, mà cần đặt trong một hệ thống kết nối tổng thể, bảo đảm hàng hóa được vận chuyển thông suốt giữa các phương thức và đầu mối giao thương.

Phát triển logistics là một trong những nội dung quan trọng tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026

Ở khu vực biên giới, Tây Ninh có lợi thế kết nối thương mại xuyên biên giới trên hành lang kinh tế Xuyên Á. Địa phương có đường biên giới khoảng 369 km, với 21 cửa khẩu, trong đó có 4 cửa khẩu quốc tế. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh đạt khoảng 31,47 tỷ USD, tăng 12,38% so với năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt 17,85 tỷ USD, nhập khẩu đạt 13,62 tỷ USD.

Theo ông Trương Tấn Sơn, Giám đốc Sở Công Thương Tây Ninh, sự phát triển của thương mại biên giới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực logistics tại các cửa khẩu. Chi phí logistics vẫn chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm; thời gian thông quan, lưu kho và trung chuyển hàng hóa còn chịu tác động đáng kể từ hạ tầng kết nối và năng lực cung ứng dịch vụ.

Thực tế này cho thấy lợi thế cửa khẩu chỉ có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế khi được hỗ trợ bởi hệ thống giao thông, kho bãi, dịch vụ hậu cần và các đầu mối kết nối với khu công nghiệp, cảng biển. Nếu hàng hóa vẫn phải qua nhiều khâu trung chuyển hoặc mất nhiều thời gian lưu kho, lợi thế về vị trí địa lý khó phát huy đầy đủ hiệu quả đối với doanh nghiệp.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, logistics lại gắn chặt với yêu cầu bảo quản, chế biến và xuất khẩu nông thủy sản. Theo ông Ngô Thái Chân, Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ, thành phố đang phát huy vai trò đầu mối kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, hệ thống kho lạnh và cảng biển. Cần Thơ hiện có 3 trung tâm logistics đang hoạt động, trong đó có Trung tâm logistics Nông sản xuất khẩu Hậu Giang.

Đối với vùng sản xuất nông thủy sản, năng lực logistics không chỉ được đo bằng khả năng vận chuyển mà còn nằm ở việc bảo quản chất lượng hàng hóa, kết nối với cơ sở chế biến và đưa sản phẩm đến thị trường thuận lợi. Vì vậy, phát triển kho vận cần gắn với hệ thống giao thông, vùng nguyên liệu và các đầu mối xuất khẩu, từng bước giảm sự phụ thuộc vào hệ thống cảng tại Đông Nam Bộ.

Nhìn từ thực tiễn của Đồng Nai, Tây Ninh và Cần Thơ, điểm nghẽn logistics phía Nam không chỉ nằm ở quy mô hạ tầng mà còn ở sự phân tán trong đầu tư và khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải. Muốn giảm chi phí thực chất, các địa phương cần chuyển từ tư duy phát triển từng công trình riêng lẻ sang tổ chức mạng lưới logistics liên vùng, phục vụ đồng thời sản xuất công nghiệp, thương mại biên giới và xuất khẩu nông thủy sản.

Kết nối liên vùng, hình thành hệ sinh thái logistics hiện đại

Trước những hạn chế hiện hữu, các địa phương phía Nam đang đề xuất nhiều giải pháp phát triển trung tâm logistics, kết nối vận tải đa phương thức, đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế điều phối. Điểm chung là gắn đầu tư hạ tầng với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả khai thác và tăng khả năng liên kết giữa các đầu mối sản xuất, lưu thông, xuất nhập khẩu.

Tại Đồng Nai, định hướng phát triển hệ sinh thái logistics gắn với sân bay quốc tế Long Thành được đặt trong mối liên hệ với cảng biển và các khu công nghiệp. Theo ông Vũ Ngọc Long, địa phương đề xuất phát triển các trung tâm logistics quy mô trên 100 ha phục vụ hàng hóa hàng không, linh kiện điện tử, sản phẩm công nghệ cao, dược phẩm và thương mại điện tử xuyên biên giới.

Cùng với đó, Đồng Nai định hướng hình thành các khu cảng cạn, kho bãi và hậu cần vệ tinh tại cảng Phước An, Trảng Bom - Bàu Cạn, tạo đầu mối trung chuyển hàng hóa cho Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Để phát huy hiệu quả hệ thống này, địa phương kiến nghị đẩy nhanh các tuyến giao thông kết nối sân bay Long Thành, nghiên cứu triển khai đường sắt chuyên dụng Trảng Bom - Long Thành - Cái Mép, đồng thời nâng cấp luồng vận tải thủy trên các sông Đồng Nai, Nhà Bè và Thị Vải. Việc kết hợp đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không được kỳ vọng tạo thêm phương án vận chuyển, nâng cao hiệu quả trung chuyển hàng hóa.

Đồng Nai cũng đề xuất xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu liên vùng giữa hải quan, sân bay, cảng biển và doanh nghiệp vận tải. Khi thông tin về hàng hóa, năng lực hạ tầng và quá trình vận chuyển được kết nối, việc tổ chức luồng hàng có điều kiện thuận lợi hơn, hạn chế những khâu trung gian không cần thiết và hỗ trợ giảm chi phí logistics.

Với Tây Ninh, trọng tâm là phát triển logistics cửa khẩu gắn với hành lang kinh tế Xuyên Á. Tỉnh đã quy hoạch 17 trung tâm logistics với tổng diện tích 1.246 ha, trong đó 2 trung tâm đi vào hoạt động. Địa phương ưu tiên phát triển các trung tâm tại Mộc Bài, Xa Mát, kết hợp kho ngoại quan, kho lạnh, cảng cạn và hạ tầng số phục vụ hoạt động logistics.

Tây Ninh đồng thời thúc đẩy các dự án kết nối giao thông chiến lược như cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, các tuyến kết nối với Vành đai 3 và Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, nâng cấp Quốc lộ 22 và Quốc lộ 22B; nghiên cứu quy hoạch tuyến cao tốc Gò Dầu - Xa Mát và các tuyến đường kết nối khu công nghiệp, cửa khẩu với trung tâm logistics.

Theo định hướng của địa phương, trục TP. Hồ Chí Minh - Trảng Bàng - Gò Dầu - Mộc Bài - Xa Mát sẽ tạo nền tảng hình thành chuỗi công nghiệp - dịch vụ - logistics liên hoàn. Trong đó, Trảng Bàng được định hướng phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và trung tâm phân phối hàng hóa phía Nam của tỉnh; Gò Dầu phát triển logistics công nghiệp gắn với các khu công nghiệp, cảng cạn và kho bãi trung chuyển. Mộc Bài tập trung vào logistics cửa khẩu, thương mại quốc tế và dịch vụ tài chính - kho vận; Xa Mát phát triển thương mại biên giới, logistics nông sản và kết nối với các tỉnh của Campuchia.

Cách tiếp cận này hướng tới việc giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng tại địa phương thông qua các hoạt động đóng gói, phân loại, dán nhãn, hoàn thiện đơn hàng và phân phối hàng hóa, thay vì chỉ thực hiện chức năng thông quan, trung chuyển. Đồng thời, phát triển kho lạnh và dịch vụ bảo quản nông sản sẽ hỗ trợ nhu cầu lưu thông hàng hóa xuyên biên giới, nhất là đối với các mặt hàng cần kiểm soát điều kiện bảo quản.

Trong khi đó, Cần Thơ dự kiến phát triển 11 trung tâm logistics vào năm 2030, đồng thời định hướng hình thành trung tâm logistics hàng không khoảng 100 ha tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ. Hệ thống này được đặt trong mối liên kết với cảng biển Trần Đề, các tuyến cao tốc và kho lạnh phục vụ chế biến, bảo quản nông sản.

Nếu được kết nối đồng bộ với vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và các đầu mối giao thông, hệ thống logistics sẽ tạo điều kiện để hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, giảm khâu trung chuyển và cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng. Đây cũng là hướng phát triển gắn hạ tầng logistics với đặc thù sản xuất của vùng, thay vì chỉ tập trung vào năng lực vận tải.

Bên cạnh đầu tư hạ tầng, cơ chế điều phối liên vùng cũng được đặt ra. Theo nội dung kiến nghị của TP. Hồ Chí Minh, logistics liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, trong khi việc phân công trách nhiệm giữa một số cơ quan Trung ương chưa thật sự rõ ràng, ảnh hưởng đến công tác điều phối và tổ chức thực hiện chính sách.

Từ thực tế đó, TP. Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ nghiên cứu thiết lập đầu mối thống nhất về quản lý nhà nước đối với logistics ở cấp quốc gia, có thể theo mô hình Ủy ban Logistics quốc gia hoặc cơ chế điều phối phù hợp. Thành phố đồng thời đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng công nghệ dùng chung, tạo thuận lợi cho kết nối thông tin, theo dõi hoạt động vận chuyển và giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Trả lời kiến nghị này, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) xác định sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu hoàn thiện cơ chế điều phối, hỗ trợ phát triển trung tâm logistics và các hành lang vận tải liên vùng. Cục cũng định hướng thúc đẩy chia sẻ dữ liệu về chi phí, thời gian vận chuyển và năng lực hạ tầng trên cơ sở tận dụng các hệ thống hiện có, tránh đầu tư trùng lặp và phát sinh thêm tầng nấc trung gian.

Cùng với hạ tầng và cơ chế điều phối, nguồn nhân lực và năng lực số của doanh nghiệp cũng là những yếu tố cần được chú trọng. Trong năm 2026, TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức 4 lớp đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực logistics và bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho doanh nghiệp; đồng thời tổ chức hội nghị kết nối chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics trong các lĩnh vực dệt may, da giày, chế biến gỗ, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp sản xuất và đơn vị cung ứng dịch vụ.

Từ những định hướng và giải pháp được các địa phương đề xuất, phát triển logistics phía Nam đòi hỏi sự kết hợp giữa hạ tầng đồng bộ, kết nối đa phương thức, dữ liệu dùng chung và cơ chế phối hợp hiệu quả. Sân bay, cảng biển, cửa khẩu, khu công nghiệp và vùng nguyên liệu cần được tổ chức trong một mạng lưới thống nhất, gắn với nhu cầu vận chuyển và đặc thù hàng hóa của từng địa bàn.

Khi các mắt xích được kết nối, logistics không chỉ thực hiện chức năng vận chuyển mà còn góp phần nâng cao giá trị hàng hóa, mở rộng không gian sản xuất và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây là cơ sở để khu vực phía Nam khai thác tốt hơn lợi thế giao thương, thúc đẩy liên kết vùng và hình thành hệ sinh thái logistics hiện đại, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website