A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết quả thực hiện nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó các vụ kiện phòng vệ thương mại đối với sản phẩm thép của Việt Nam

1. Tên nhiệm vụ: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm thép tại một số thị trường xuất khẩu chủ lực” (Mã số: ĐTKHCN.069/25).

2. Tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương.

3. Chủ nhiệm nhiệm vụ và người tham gia chính: Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Chu Thắng Trung. Người tham gia chính gồm: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Bích; CN. Nguyễn Thị Phương Thảo; ThS. Trần Thị Lan Hương; ThS. Phạm Thu Hà. Thư ký: ThS. Hoàng Hà Phương.

4. Mục tiêu của nhiệm vụ: Đề xuất hệ thống giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại đối với sản phẩm thép tại một số thị trường xuất khẩu chủ lực; qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, duy trì thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của ngành thép Việt Nam.

5. Kết quả thực hiện nhiệm vụ (tóm tắt):

Đề tài được triển khai trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng được sử dụng phổ biến đối với ngành thép trên phạm vi toàn cầu. Nghiên cứu đã kết hợp phân tích pháp lý, tổng hợp thực tiễn vụ việc, so sánh kinh nghiệm quốc tế, điều tra khảo sát doanh nghiệp và phân tích định lượng để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp thép Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị.  

Thứ nhất, đề tài đã hệ thống hóa và cập nhật cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực tiễn áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, chống lẩn tránh và chống trốn thuế đối với sản phẩm thép tại các thị trường xuất khẩu chủ lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy thép là nhóm hàng có rủi ro phòng vệ thương mại đặc biệt cao. Trong giai đoạn 2004-2025, thép xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với khoảng 90 vụ việc phòng vệ thương mại, chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc liên quan đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ hai, đề tài đã phân tích thực tiễn ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, ASEAN và các nước RCEP thông qua các vụ việc điển hình liên quan đến thép chống ăn mòn, thép cán nóng, thép không gỉ cán nguội, ống thép và các sản phẩm thép khác. Kết quả cho thấy nhận thức và mức độ hợp tác của doanh nghiệp đã được cải thiện; một số doanh nghiệp đạt mức thuế bằng 0 hoặc thấp hơn đáng kể so với các nước cùng bị điều tra. Tuy nhiên, năng lực ứng phó vẫn chưa đồng đều, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ ba, nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a cho thấy mô hình ứng phó hiệu quả đều dựa trên ba trụ cột: doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu minh bạch và nhân sự chuyên trách; hiệp hội ngành hàng thực hiện cảnh báo sớm, điều phối kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm; cơ quan nhà nước hỗ trợ pháp lý, cung cấp thông tin và phối hợp liên ngành. Bài học quan trọng là cần chuyển từ ứng phó tình huống sang quản trị rủi ro dài hạn trước, trong và sau vụ việc.

Thứ tư, kết quả khảo sát và mô hình hồi quy logistic cho thấy ba nhóm nhân tố tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến khả năng ứng phó gồm: sự tồn tại của bộ phận tuân thủ hoặc đầu mối chuyên trách trong doanh nghiệp; việc chủ động tìm kiếm và sử dụng hỗ trợ từ cơ quan nhà nước; và nhu cầu đào tạo chuyên sâu về phòng vệ thương mại. Trong đó, năng lực tổ chức nội bộ và chất lượng dữ liệu là các điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả trả lời bảng câu hỏi, thẩm tra tại chỗ và chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng bộ phận chuyên trách về PVTM, hoàn thiện hệ thống quản trị dữ liệu, nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, tăng cường năng lực pháp chế và quản trị tuân thủ.

Thứ năm, đề tài đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, phát huy vai trò của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội trong ứng phó PVTM. Đối với doanh nghiệp, trọng tâm là xây dựng bộ phận chuyên trách; chuẩn hóa dữ liệu kế toán, sản xuất và bán hàng; số hóa truy xuất nguồn gốc; lập hồ sơ sẵn sàng ứng phó; bố trí nguồn lực tài chính và đa dạng hóa thị trường. Đối với Nhà nước, cần nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm, hỗ trợ pháp lý và kỹ thuật, xây dựng cơ sở dữ liệu vụ việc, tăng cường tham vấn và bảo đảm tính minh bạch của các chính sách hỗ trợ ngành thép. Đối với Hiệp hội Thép Việt Nam, cần tăng cường vai trò điều phối, chia sẻ thông tin, tổ chức đào tạo chuyên sâu và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.

6. Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2025 đến tháng 5 năm 2026.

7. Kinh phí thực hiện: 300 triệu đồng, trong đó kinh phí từ ngân sách nhà nước là 300 triệu đồng; kinh phí từ nguồn khác: Không.


Nguồn:Cục Phòng vệ thương mại Copy link

Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website