A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Rà soát Nghị định 163, mở đường cho logistics phát triển hiện đại

Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD đặt ra yêu cầu mới cho logistics. Rà soát, thay thế Nghị định 163/2017/NĐ-CP là bước cải cách thể chế cần thiết.

Thể chế logistics trước yêu cầu phát triển mới

Sau gần 10 năm thực thi, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics đã góp phần cụ thể hóa các quy định của Luật Thương mại, tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự thay đổi nhanh chóng của thương mại quốc tế, chuyển đổi số và cấu trúc chuỗi cung ứng, nhiều quy định không còn theo kịp thực tiễn. Đặc biệt, những thay đổi trong pháp luật về đầu tư, điều kiện kinh doanh đang đặt ra yêu cầu phải thiết kế lại cách thức quản lý lĩnh vực này.

Tại phiên chuyên đề về hoàn thiện chính sách, thể chế pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển dịch vụ logistics trong bối cảnh mới diễn ra chiều 7/11 trong khuôn khổ Diễn đàn Logistics Việt Nam 2026, TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, việc rà soát Nghị định 163/2017/NĐ-CP không đơn thuần là cập nhật một văn bản dưới luật, mà cần giải quyết căn cơ những bất cập về phạm vi điều chỉnh, điều kiện kinh doanh, trách nhiệm của các chủ thể, logistics số, logistics xanh và tổ chức thực thi.

Nghị định số 163/2017/NĐ-CP được ban hành ngày 30/12/2017, trong bối cảnh hoạt động logistics tại Việt Nam đang từng bước mở rộng và chuyên nghiệp hóa. Sau gần một thập kỷ, văn bản này đã hoàn thành vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy định của Luật Thương mại, tạo căn cứ chung cho hoạt động kinh doanh, bước đầu làm rõ điều kiện tiếp cận thị trường, trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

Xuất nhập khẩu vượt mốc 1000 tỷ USD đặt ra yêu cầu mới với ngành logistics

Tuy nhiên, bức tranh logistics hiện nay đã thay đổi đáng kể. Dịch vụ không còn chủ yếu là những công đoạn riêng lẻ như vận tải, kho bãi hay giao nhận. Doanh nghiệp đang chuyển sang cung ứng dịch vụ tích hợp, quản trị đơn hàng, hoàn tất đơn hàng thương mại điện tử, vận hành chuỗi lạnh, khai thác nền tảng số, chứng từ điện tử và các giải pháp tối ưu toàn bộ chuỗi cung ứng.

Quy mô thương mại quốc tế cũng tạo ra sức ép lớn hơn đối với năng lực logistics. Trong 10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã vượt mốc 1.000 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 493 tỷ USD, nhập khẩu đạt 507 tỷ USD. Khối lượng hàng hóa lưu chuyển ngày càng lớn đòi hỏi tốc độ xử lý nhanh hơn, dữ liệu liên thông, trách nhiệm giữa các chủ thể rõ ràng và chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu tốt hơn.

Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ quy định nào đã hoàn thành vai trò lịch sử, quy định nào không còn căn cứ pháp lý, những khoảng trống nào cần xử lý và công cụ pháp luật nào phù hợp nhất. Mục tiêu không chỉ là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

Đáng chú ý, việc rà soát Nghị định 163 đã được đặt ra trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025. Theo đó, Bộ Công Thương được giao chủ trì rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định trong giai đoạn 2025 - 2027.

Chiến lược đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics bình quân 12-15% mỗi năm, giảm chi phí logistics xuống tương đương 12-15% GDP, đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu về Chỉ số hiệu quả logistics; đồng thời có 80% doanh nghiệp logistics sử dụng giải pháp chuyển đổi số trong giai đoạn 2025 - 2035.

Những mục tiêu này đòi hỏi khuôn khổ pháp lý không chỉ theo kịp hoạt động kinh doanh hiện tại mà còn phải tạo dư địa cho các mô hình dịch vụ mới. Trong khi đó, sự thay đổi của hệ thống pháp luật về đầu tư đang tạo ra yêu cầu cấp thiết phải điều chỉnh cách tiếp cận quản lý.

Sáu nhóm chính sách định hình khuôn khổ mới

Từ thực tiễn thi hành Nghị định 163/2017/NĐ-CP, TS. Bùi Bá Nghiêm chỉ ra sáu nhóm bất cập có tính hệ thống. Trong đó, phạm vi điều chỉnh và cách phân loại dịch vụ vẫn chủ yếu dựa trên danh mục truyền thống, chưa phản ánh đầy đủ dịch vụ tích hợp, logistics nền tảng, hoàn tất đơn hàng, chuỗi lạnh và dịch vụ dựa trên dữ liệu.

Để xử lý những bất cập này, TS. Bùi Bá Nghiêm đề xuất sáu nhóm chính sách trọng tâm.

Trước hết, cần thiết kế lại phạm vi điều chỉnh, khái niệm và phân loại dịch vụ theo hướng bám sát Điều 233 Luật Thương mại năm 2005. Danh mục dịch vụ logistics chỉ nên được sử dụng để nhận diện, thống kê và đối chiếu cam kết quốc tế, không phải căn cứ phát sinh giấy phép kinh doanh.

Đối với điều kiện kinh doanh, cần bãi bỏ cấu trúc Điều 4 hiện hành, xác lập nguyên tắc thương nhân được kinh doanh dịch vụ logistics theo quyền tự do kinh doanh. Trường hợp trực tiếp thực hiện hoạt động thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì phải tuân thủ quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Cách tiếp cận này nhằm tránh phát sinh giấy phép logistics chung, xác nhận đủ điều kiện logistics hoặc những yêu cầu hồ sơ ngoài quy định pháp luật.

Với nhà đầu tư nước ngoài, việc tiếp cận thị trường cần được thiết kế thành nội dung riêng, áp dụng theo pháp luật đầu tư, danh mục hạn chế tiếp cận thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc xây dựng bảng tra cứu điện tử theo từng phân ngành sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận thông tin, đồng thời hạn chế nguy cơ những quy định về tỷ lệ sở hữu và phạm vi hoạt động nhanh chóng lạc hậu.

Một vấn đề quan trọng khác là trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp chỉ thực hiện vai trò trung gian kết nối cần chịu trách nhiệm trong phạm vi hoạt động trung gian; trong khi doanh nghiệp đứng tên nhận cung ứng dịch vụ trọn gói phải chịu trách nhiệm đối với phần việc đã cam kết với khách hàng, kể cả khi thuê nhà thầu phụ. Đối với giới hạn trách nhiệm bồi thường 500 triệu đồng cho mỗi yêu cầu hiện nay, cần đánh giá bằng hồ sơ thực tế, so sánh các phương án tính theo giá trị tiền, kiện hàng, khối lượng hoặc tham chiếu đơn vị quyền rút vốn đặc biệt, đồng thời xem xét khả năng mua bảo hiểm của doanh nghiệp nhỏ.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, khuôn khổ mới cần thừa nhận chứng từ và thông điệp dữ liệu theo Luật Giao dịch điện tử; làm rõ trách nhiệm giữa người bán, nền tảng thương mại điện tử, nền tảng logistics và đơn vị vận chuyển. Nguyên tắc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm tối thiểu, đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đồng thời bảo vệ bí mật kinh doanh và an toàn dữ liệu.

Đặc biệt, với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh, cần thực hiện nguyên tắc một lần khai báo, sử dụng lại dữ liệu đã tiếp nhận qua Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN, phù hợp với Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO. Khi dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả, doanh nghiệp có thể giảm giấy tờ, giảm thời gian xử lý, còn cơ quan quản lý có thêm cơ sở để giám sát theo rủi ro.

Đối với logistics xanh, định hướng được đề xuất là xây dựng nguyên tắc và lộ trình chuyển đổi, chưa đặt ra giấy chứng nhận xanh bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Trước mắt, khuyến khích doanh nghiệp ghi nhận quãng đường xe chạy rỗng, nhiên liệu tiêu thụ, tải trọng thực chở, mức sử dụng năng lượng của kho và dữ liệu phát thải theo tuyến. Từ đó, doanh nghiệp có thể lựa chọn giải pháp tối ưu tuyến vận chuyển, ghép chuyến, đổi mới phương tiện và sử dụng năng lượng sạch phù hợp với năng lực.

Cuối cùng, cần tăng cường điều phối và tổ chức thực thi. Bộ Công Thương được xác định là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về dịch vụ logistics; các bộ quản lý chuyên ngành chịu trách nhiệm đối với hoạt động thuộc phạm vi được giao, địa phương tổ chức thực hiện và phản ánh vướng mắc trên địa bàn. Cơ chế điều phối cần gắn với đầu mối thường trực, quy chế xử lý vấn đề liên ngành, liên vùng và bộ chỉ tiêu đánh giá dựa trên kết quả thực tế.

Nhấn mạnh vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, TS. Bùi Bá Nghiêm cho rằng, mỗi hợp đồng, mỗi bộ chứng từ, mỗi vụ việc chậm giao hay mỗi khoản chi phí phát sinh đều có thể trở thành bằng chứng để sửa một quy định chưa phù hợp. Doanh nghiệp cũng cần chủ động chuẩn hóa hợp đồng, quản trị dữ liệu, mua bảo hiểm phù hợp, đầu tư công nghệ và nâng cao trách nhiệm với khách hàng.


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website