Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình
Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình
Cử tri tiếp tục đề nghị quan tâm, có chính sách hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, ổn định đời sống sau di dân sông Đà phục vụ xây dựng Công trình Nhà máy thủy điện Hòa Bình. Trong đó, đề nghị sớm chỉ đạo EVN thực hiện điều chỉnh giá mua điện của Công ty thủy điện Hòa Bình theo cơ chế thị trường và bình quân chung giá mua của toàn ngành. Thực hiện hạch toán độc lập đối với Công ty thủy điện Hòa Bình để tạo nguồn thu cho ngân sách Trung ương và cho địa phương có điều kiện tái đầu tư cơ sở hạ tầng và cải thiện đời sống người dân vùng ảnh hưởng của dự án, nơi chịu nhiều hy sinh cho công trình.
Thực hiện nhiệm vụ tại Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg ngày 18 tháng 11 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, các Bộ, ngành Trung ương đã chỉ đạo, hướng dẫn các tỉnh lập, thẩm định và phê duyệt các đề án, dự án ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư các dự án thủy điện. Trong đó, Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà thủy điện Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2009-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà thủy điện Hòa Bình trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2011- 2017 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015.
Với mục tiêu giúp người dân tái định cư ổn định đời sống và phát triển sản xuất ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, trong nhiều năm qua, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành hệ thống các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sau tái định các dự án thủy lợi, thủy điện khá đầy đủ. Các địa phương đã tích cực tổ chức thực hiện tốt các chính sách, hàng trăm nghìn người đã được di chuyển và bố trí vào các khu, điểm tái định cư, nhiều công trình cơ sở hạ tầng đã được quy hoạch và đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.
Tuy nhiên, vấn đề khôi phục sinh kế hậu tái định cư giúp người dân ổn định đời sống một cách bền vững đang còn những bất cập chưa được giải quyết triệt để, như: tại một số nơi điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm, cơ sở hạ tầng nông thôn xuống cấp, thiếu vốn, trình độ lao động thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo cao, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức thu nhập bình quân chung của địa phương, điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân tái định cư còn hạn chế. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách về di dân, tái định cư và sau tái định tuy đã được ban hành khá đầy đủ; song, qua thời gian thực hiện đã phát sinh một số bất cập, hạn chế, chưa phù hợp với điều kiện thực tế nên việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Để khắc phục các tồn tại, hạn chế nêu trên, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương tổ chức thực hiện nhằm giúp người dân tái định cư có cuộc sống ngày càng tốt hơn, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản tại nơi ở mới, trong thời gian tới các Bộ, ngành có liên quan cần tiếp tục quan tâm và hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện phù hợp với yêu cầu và tình hình mới. Ngày 31 tháng 12 năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 137/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương, trong đó giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Đề án hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định triển khai nghiên cứu lập Đề án: “Rà soát và hoàn thiện các chính sách về di dân, tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện” trên địa bàn cả nước.
Nhà máy thủy điện Hòa Bình có công suất lắp đặt Nlm=1.920 MW, là nhà máy thủy điện lớn thứ hai trên địa bản cả nước (sau nhà máy thủy điện Sơn La Nlm=2.400 MW) là công trình thủy điện chiến lược đa mục tiêu. Ngoài nhiệm vụ hàng năm cung cấp cho hệ thống điện quốc gia khoảng 10 tỷ kWh, hồ chứa thủy điện Hòa Bình cùng với hồ chứa thủy điện Thác Bà, Tuyên Quang hàng năm cung cấp khoảng hơn 6 tỷ m3 nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, là một trong sáu nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội quốc phòng, an ninh, là nhà máy không tham gia thị trường điện, hạch toán trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (theo Quyết định số 2012/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ). Hàng năm, Công ty Thủy điện Hòa Bình còn đóng góp nguồn kinh phí đáng kể vào ngân sách của Nhà nước và địa phương. Những năm gần đây, Công ty đã nộp ngân sách cho tỉnh Hòa Bình 1.000 - 1.400 tỷ đồng/năm, nộp thuế tài nguyên cho tỉnh Sơn La 300 - 450 tỷ đồng/năm, đóng góp tiền dịch vụ môi trường rừng cho 6 tỉnh thuộc lưu vực phía thượng nguồn sông Đà trên 200 tỷ đồng/năm. Vì vậy, Bộ Công Thương thấy rằng kiến nghị của cử tri về việc chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện điều chỉnh giá mua điện của Công ty thủy điện Hòa Bình theo cơ chế thị trường và bình quân chung của toàn ngành, thực hiện hạch toán độc lập đối với Công ty thủy điện Hòa Bình để tạo nguồn thu cho ngân sách Trung ương và cho địa phương có điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng và cải thiện đời sống người dân vùng ảnh hưởng của Dự án là chưa có cơ sở để xem xét.

