Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An
Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An
Bộ Công Thương trân trọng cảm ơn ý kiến của Đại biểu. Do Bộ trưởng Bộ Công Thương không có điều kiện về thời gian để có thể trao đổi trực tiếp hết những nội dung được Đại biểu nêu tại Hội trường nên xin phép được báo cáo lại với Đại biểu về vấn đề nêu trên như sau:
I. Các mục tiêu của Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ:
Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã ban hành Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, với các mục tiêu cụ thể như sau:
* Đối với ngành Dệt - May
- Đến 2010 đáp ứng trên 30% nhu cầu nội địa, đến 2015 khoảng 39% và đến 2020 khoảng 40% nhu cầu vải dệt thoi.
- Phấn đấu đến 2010 tự sản xuất trong nước từ 10-70% tuỳ loại phụ tùng cơ khí dệt may và 40-100% vào năm 2020.
- Đến năm 2015 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp, đến năm 2020 đáp ứng 80% nhu cầu nội địa và tiến tới xuất khẩu sau năm 2020.
- Phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu các loại phụ liệu may như cúc, chỉ, khoá kéo…
- Xây dựng 3 trung tâm nguyên phụ liệu dệt may ở Hưng Yên, Long An và Bình Dương, Đà Nẵng.
* Đối với ngành Da - Giày
- Nâng tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước đạt 40% vào năm 2010 và 70-80% vào năm 2020.
- Giảm dần mức nhập khẩu da sơ chế từ nay đến năm 2010, nâng công suất thuộc da đến năm 2010 tăng thêm 40 triệu sqft.
- Sau năm 2015 tự chủ được khuôn mẫu và phụ tùng thay thế thông thường.
* Đối với ngành Điện tử - Tin học
- Xây dựng ngành CNHT cho công nghiệp điện tử theo xu hướng tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng linh phụ kiện của thế giới và khu vực.
- Công nghiệp hỗ trợ trước mắt đáp ứng nhu cầu về linh kiện lắp ráp đơn giản, các chi tiết nhựa, khuôn mẫu, mạch in…
- Thu hút các tập đoàn đa quốc gia phát triển các cơ sở sản xuất, thiết kế các hệ thống bán dẫn tích hợp cao, vi điều khiển, các thiết bị SoC (System on-a chip), IC thông minh, những sản phẩm tín hiệu hỗn hợp, những vi mạch có bộ nhớ nhanh, bộ nhớ STRAM...
- Phát triển các cơ sở sản xuất, thiết kế các hệ thống bán dẫn tích hợp cao, các phần mềm nhúng, các bảng mạch tích hợp dùng cho thiết bị thông tin, máy tính, thiết bị ngoại vi, đồ điện, điện tử gia dụng…
- Phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng cho phí nguyên vật liệu trong nước trong giá thành sản phẩm ước đạt 22-25%.
* Đối với ngành Sản xuất và Lắp ráp ô tô
- Đến năm 2010, hoàn thiện các mẫu xe tải, xe khách với tỷ lệ sử dụng linh phụ kiện sản xuất trong nước là 65%, xe con là 15%; đến năm 2020 cho xe khách là 75%, xe tải là 85% và xe con là 30%. Từng bước tham gia xuất khẩu một số linh kiện, phụ tùng.
- Phấn đấu đạt tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước sản xuất các phụ tùng theo vùng công nghệ tính theo % đến năm 2010 và 2020 như sau:
Cacbin xe tải từ 70% lên 95%; Khung xe tải từ 90% lên 95%; Khung xe khách từ 80% lên 90%; Vỏ xe khách từ 70% lên 80%; Hệ thống xe khách từ 70% lên 80%; Cụm động cơ từ 50% lên 60%; hộp số và cầu xe từ 60% lên 75%; Moay ơ bánh xe, cát đăng từ 60% lên 75%; Hệ thống lái và cầu trước từ 60% lên 65%.
- Hoàn thiện cơ bản các tiêu chuẩn linh phụ kiện cho ô tô sản xuất tại Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn chung của khu vực và ASEAN vào năm 2015.
* Đối với ngành Cơ khí Chế tạo
Đến năm 2010 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về phôi đúc, rèn và chi tiết quy chuẩn và đến 2020 đạt khoảng 75%, với chất lượng đạt tương đương khu vực.
II. Kết quả thực hiện mục tiêu của Quy hoạch
1. Tình hình thực hiện Quy hoạch giai đoạn 2007-2010
Đối với CNHT cho ngành dệt may. Quy hoạch đề ra các mục tiêu cụ thể đối với ngành dệt may dựa trên năng lực cung ứng của 3 sản phẩm, nhóm sản phẩm chính: Vải dệt thoi; xơ, sợi; phụ liệu. Theo đó, mục tiêu về sản xuất xơ, sợi hoàn thành với năng lực sản xuất trong nước đã có thể đáp ứng được 50% nhu cầu xơ sợi, một phần đã được xuất khẩu. Sản xuất Vải dệt thoi và phụ liệu không đạt mục tiêu đề ra với năng lực sản xuấtchỉ đáp ứng được 23% và 70% nhu cầu trong khi mục tiêu đặt ra tương ứng là 30% và 90%.
Mục tiêu xây dựng 3 trung tâm nguyên phụ liệu dệt may ở Hưng Yên, Long An và Bình Dương, Đà Nẵng: Trong giai đoạn này, tại 3 khu vực này đã xuất hiện sự tập trung số lượng lớn các doanh nghiệp ngành dệt may, tiếp nhận các doanh nghiệp dệt, nhuộm, sản xuất phụ liệu từ các khu vực lân cận, đặc biệt là các doanh nghiệp từ nội thành các thành phố di dời tới. Tuy nhiên, việc phát triển các khu vực này thành trung tâm sản xuất nguyên phụ liệu chưa rõ nét do thiếu sự liên kết cũng như các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Đối với CNHT cho ngành da giày. Quy hoạch đã đề ra mục tiêu đáp ứng 40% nhu cầu nguyên phụ liệu ngành da giày vào năm 2010. Đến năm 2010, tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước ngành da giày cũng đã đạt 40%, đạt mục tiêu đề ra. Công suất thuộc da đã đạt 270 triệu sqf năm 2010 so với 120 triệu sqf cuối năm 2007, tăng thêm 150 triệu sqf, vượt mục tiêu sản xuất da đề ra là tăng thêm 40 triệu sqf.
Đối với CNHT cho ngành Điện tử- Tin học.Mục tiêu xây dựng ngành CNHT cho công nghiệp điện tử theo xu hướng tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng linh phụ kiện của thế giới và khu vực và thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất. Mục tiêu này đã được thực hiện, Việt Nam đã thu hút được số lượng lớn các doanh nghiệp đầu tư vào ngành điện tử, trong đó có các Tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trong lĩnh vực này như Samsung, Intel, Foxconn… đầu tư sản xuất sản phẩm tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này cùng với các nhà đầu tư FDI vừa và nhỏ chuyên sản xuất linh kiện cung ứng tại chỗ đã bước đầu hình thành hệ thống chuỗi cung ứng ngay trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất.
Mục tiêu phát triển hệ thống các doanh nghiệp sản xuất, thiết kế sản phẩm điện tử: trong giai đoạn này, hệ thống này vẫn chưa hình thành, các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào khâu sản xuất lắp ráp, ít đầu tư vào khâu thiết kế, nghiên cứu và triển khai; hệ thống doanh nghiệp điện tử trong nước ít, không cạnh tranh được với các tập đoàn đa quốc gia nên cũng đang giảm dần các khâu sản xuất, thiết kế, tập trung vào một số khâu gia công, sản xuất linh kiện có lợi thế.
Mục tiêu tỷ trọng cho phí nguyên vật liệu trong nước trong giá thành sản phẩm đạt 22-25% không hoàn thành, tỷ trọng nguyên vật liệu điện tử trong nước chỉ đạt 15% do toàn bộ các loại vật liệu điện tử, hầu hết linh kiện cơ bản đều phải nhập khẩu.
Đối với ngành sản xuất và lắp ráp ô tô. Tỷ lệ sử dụng linh kiện trong nước đối với các mẫu xe tải, xe khách, xe con đều không đạt mục tiêu đề ra, tỷ lệ sử dụng linh kiện trong nước đối với xe tải, xe khách chỉ đạt 40%, xe con đạt dưới 15% so với mục tiêu đề ra tương ứng là 60% và 15%.
Quy hoạch cũng đề mục tiêu xây dựng hệ thống tiêu chuẩn linh kiện cho ô tô sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn chung của khu vực vào năm 2015. Trong giai đoạn này, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn này chưa được triển khai, các nhà sản xuất linh kiện cho ô tô vẫn sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn riêng của nhà sản xuất lắp ráp mà không sử dụng các hệ tiêu chuẩn của Việt Nam.
Đối với CNHT cho ngành cơ khí chế tạo. Mục tiêu quy hoạch đề ra là đến năm 2010 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về phôi đúc, rèn và chi tiết quy chuẩn. Tuy nhiên, trong giai đoạn này tỷ lệ đáp ứng của ngành cơ khí đối với các sản phẩm này chỉ đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu Quy hoạch đề ra.
Như vậy,4/12 mục tiêu của Quy hoạch đã được hoàn thành đạt mức đề ra, gồm có: (1) mục tiêu về sản xuất xơ, sợi cho ngành may; (2)sản xuất da; (3)nguyên phụ liệu cho ngành da giày; (4) thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành điện tử. 8/12 mục tiêu chưa hoàn thành, gồm các mục tiêu: (1) sản xuất vải dệt thoi; (2)sản xuất phụ liệu ngành may; (3)sản xuất nguyên vật liệu điện tử; (4)sản xuất, thiết kế sản phẩm điện tử; (5)sản xuất linh kiện cho xe tải, xe khách; (6)linh phụ kiện cho xe con; (7)xây dựng tiêu chuẩn cho linh kiện ngành ô tô; (8)sản xuất phôi đúc, rèn và chi tiết tiêu chuẩn cho ngành cơ khí chế tạo.
2. Tình hình thực hiện Quy hoạch giai đoạn 2010 – nay
2.1. Lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử
- Điện tử gia dụng (30-35% nhu cầu linh kiện) và ô tô- xe máy (khoảng 40% - chủ yếu cho sản xuất xe máy).
- Điện tử tin học, viễn thông chỉ đạt 15%, điện tử chuyên dụng và các ngành công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt 5%. Đầu tư FDI chiếm trên 80% số doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng của Việt Nam, tập trung vào linh kiện điện - điện tử và linh kiện kim loại.
2.2. Lĩnh vực CNHT ngành dệt may
Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 27,3 tỷ USD, đóng góp khoảng 15% tổng kim ngạch xuất cả nước. Tuy nhiên lượng nguyên phụ liệu nhập rất lớn với kim ngạch 13,4 tỷ USD, đặc biệt là vải khoảng 10,5 tỷ USD. Tuy nhiên, dệt may Việt Nam vẫn tồn tại hạn chế “cốt tử” là tỷ lệ sản xuất nguyên liệu trong nước chưa cao. Hiện tỷ lệ nội địa hóa đạt của các doanh nghiệp dệt may đạt khoảng 40%, nếu kể cả các dự án sẽ đưa vào vận hành trước năm 2018 sẽ đạt trên 45%, các phụ kiện khác khoảng 70%. Đến năm 2020, tỷ lệ có thể đạt trên 60%.
2.3. Lĩnh vực CNHT ngành da dày
Nguyên phụ liệu chiếm tới 68-75% trong cơ cấu giá thành sản phẩm giày dép, nhưng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm này của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ đạt 40-45%.
Cụ thể, đối với da thuộc thành phẩm, hiện tỷ lệ nội địa hóa ước tính dưới 30%. Trong đó, doanh nghiệp thuộc da trong nước chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, có các xưởng thuộc da nhỏ và vừa, chỉ sử dụng nguồn da nguyên liệu (raw hides) trong nước. Do chất lượng thấp nên da thuộc thành phẩm của các doanh nghiệp này hầu như chỉ dùng để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng nội địa, không đạt tiêu chuẩn làm hàng xuất khẩu.
Các doanh nghiệp trong nước chiếm gần 70% về số lượng doanh nghiệp, nhưng chỉ chiếm 35% tổng sản lượng da thuộc sản xuất tại Việt Nam. Chỉ có một số ít doanh nghiệp lớn trong nước có chất lương cao, được cung cấp cho các nhà máy sản xuất giày da, túi xách xuất khẩu.
Doanh nghiệp thuộc da có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (FDI) bao gồm các nhà máy thuộc da quy mô lớn của Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc. Mặc dù chỉ chiếm 31,4% về số doanh nghiệp, nhưng sản xuất 57% sản lượng da thuộc thành phẩm chất lượng cao.
Hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu mũ giày (giả da, da nhân tạo, da tráng PU) từ Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc. Một số doanh nghiệp trong LEFASO đã xúc tiến đầu tư, xây dựng nhà máy sản xuất PU. Hiện tỷ lệ nội địa hoá da tổng hợp, da nhân tạo đạt khoảng 35%.
Đối với vải làm giày dép, Việt Nam mới chỉ cung ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp. Ngành dệt vải Việt Nam chưa chú trọng sản xuất vải dùng cho ngành giày dép. Do đó, các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập khẩu. Tỷ lệ nội địa hoá vải làm mũ giày hiện đạt trên 70%.
2.4. Lĩnh vực CNHT ngành ô tô
* Kết quả đạt được
- Bước đầu đã hình thành nên một ngành công nghiệp hỗ trợ, cung cấp một số phụ tùng cho sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước.
- Các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao, đạt mục tiêu đề ra đáp ứng về cơ bản thị trường nội địa (xe tải đến 07 tấn đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa trung bình 55%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đáp ứng khoảng 90% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 45% đến 55% vượt chỉ tiêu so với qui hoạch).
- Đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước (bình quân khoảng hơn 3 tỷ USD/năm - chỉ tính riêng các khoản thuế) và giải quyết công ăn việc làm cho khoảng gần 110 ngàn lao động trực tiếp. Bước đầu tích luỹ được kinh nghiệm trong việc lắp ráp ô tô và sản xuất một số phụ tùng, linh kiện, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển ngành sản xuất - chế tạo ô tô.
* Các nội dung chưa đạt
- Chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự (phần lớn mới ở mức độ lắp ráp đơn giản). Dây chuyền sản xuất chủ yếu gồm 4 công đoạn chính là hàn, sơn, lắp ráp, kiểm tra.
- Về tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi: mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7-10%, trong đó Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova, thấp hơn mục tiêu đề ra.
- Ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp ô tô đã hình thành, nhưng còn yếu kém, chỉ sản xuất được một số ít chủng loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, săm-lốp, sản phẩm nhựa v.v. Chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư dây chuyền dập thân, vỏ xe.
- Chưa tạo được sự hợp tác - liên kết và chuyên môn hoá giữa các doanh nghiệp trong sản xuất - lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện. Chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn.
2.5. Về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
- Máy kéo
Đã sản xuất được máy kéo 2 bánh công suất 22-26 mã lực, đáp ứng nhu cầu trong nước (với tỷ lệ nội địa hóa đến 90%). Mới sản xuất được máy kéo 4 bánh cỡ trung công suất 22-26 mã lực (với tỷ lệ nội địa hóa đến 90%), chưa đạt mục tiêu đến năm 2010 sản xuất được máy kéo 4 bánh công suất 50-80 mã lực.
- Máy nông nghiệp
Một số doanh nghiệp như Tổng Công ty Veam; Sinco, Bùi Văn Ngọ, Cơ khí VINA Nha Trang đã đáp ứng nhu cầu trong nước về các loại máy nông nghiệp và phụ tùng cho các loại máy: máy xay xát lúa gạo, cà phê, máy sấy, máy canh tác. Tuy nhiên chúng ta chưa đạt mục tiêu xây dựng chuyên ngành chế tạo máy nông nghiệp đủ mạnh, bao gồm máy canh tác, máy chế biến và thiết bị bảo quản các sản phẩm nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước xuất khẩu.
- Máy công cụ
Chưa thiết kế, chế tạo được các loại máy công cụ CNC hoàn chỉnh để đáp ứng nhu cầu của ngành cơ khí. Trong nước mới chỉ sản xuất được các loại máy công cụ cơ bản: máy tiện, phay bào, mài, khoan... với phần lớn hệ thống điều khiển tích hợp từ sản phẩm nhập khầu.
- Cơ khí xây dựng
Hiện nay Việt Nam chưa chế tạo được các loại máy xây dựng có độ phức tạp cao, hiện đại mà thị trường trong nước và nước ngoài có nhu cầu như: máy xúc, máy ủi, máy đào máy san...
- Cơ khí tàu thủy
Chưa đạt mục tiêu phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cho đóng tàu: sản xuất thép tấm đóng tàu, lắp ráp động cơ thủy đến 6.000 mã lực..và mục tiêu: Phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam theo hướng trở thành một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật đồng bộ từ đào tạo đến sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.
- Thiết bị điện
Đã sản xuất được máy biến áp đến 500MVA và các thiết bị trạm biến áp đến 220kV, cơ bản đáp ứng mục tiêu đề ra.
- Về cơ khí giao thông vận tải
Chưa làm chủ công tác thiết kế, chế tạo hoàn chỉnh được các loại xe, máy công trình như xe lu, máy rải thảm bê tông nhựa, toa xe lửa cao cấp với tỷ lệ nội địa hóa đến 90%;
III. Nguyên nhân của việc thực hiện các mục tiêu tại Quy hoạch chưa hiệu quả trong thời gian vừa qua
1. Nguyên nhân khách quan
- Dung lượng thị trường: Trong thời gian qua, dung lượng thị trường trong nước còn nhỏ, chưa đảm bảo quy mô công suất sản xuất kinh tế đối với sản phẩm CNHT.
- Tín dụng và môi trường kinh tế vĩ mô: Trong thời gian dài vừa qua, một số lĩnh vực kinh doanh đem lại tỷ suất lợi nhuận cao đã thu hút nguồn lực của xã hội nên đầu tư vào sản xuất công nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc khởi tạo doanh nghiệp công nghiệp chế tạo gặp nhiều khó khăn và rủi ro so với việc thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Đồng thời việc thu hồi vốn chậm, tỷ suất lợi nhuận thấp do lãi suất tín dụng cao cũng hạn chế các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phát triển. Các chính sách tín dụng còn chưa thông thoáng.
- Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước còn thấp, trong khi đó, các chuỗi sản xuất toàn cầu yêu cầu các tiêu chuẩn về sản xuất rất cao và giá cả phải đảm bảo cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được.
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp: CNHT là ngành thâm dụng nhân lực. Trong khi đó, nội dung đào tạo tại các trường kỹ thuật lạc hậu, không gắn với thực tiễn sản xuất, cùng với sự mất cân đối trong phát triển kinh tế tạo ra tâm lý lao động xã hội chỉ quan tâm đến các ngành thương mại và dịch vụ khiến nguồn nhân lực cho phát triển CNHT thiếu cả về lượng và chất.
- Phát triển hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV): Ở tất cả các quốc gia, CNHT do hệ thống DNNVV đảm nhiệm. Hệ thống DNNVV ở Việt Nam đã được hình thành nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, do đó khả năng phát triển bền vững còn thấp, chưa đảm nhận tốt vai trò của hệ thống này trong nền kinh tế, nhất là trong các ngành công nghiệp.
- Tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp toàn cầu: Các doanh nghiệp toàn cầu thường sử dụng các doanh nghiệp đã từng cung ứng sản phẩm CNHT trong chuỗi sản xuất của họ hoặc các doanh nghiệp cùng quốc tịch.
- Sự chủ động về các vật liệu cơ bản: Các vật liệu cơ bản phục vụ sản xuất sản phẩm CNHT như thép chế tạo, nhựa và chất dẻo... chủ yếu vẫn phải dựa vào nhập khẩu. Sự phụ thuộc này đã làm giảm tính chủ động trong sản xuất và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.
2. Nguyên nhân chủ quan:
- Các chính sách phát triển CNHT còn bất cập, chưa phù hợp với thực trạng ngành CNHT Việt Nam, chưa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp CNHT tiếp cận tốt nhất với các ưu đãi về vay vốn tín dụng, thuế... cũng như chưa có những hỗ trợ về kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực... cho các doanh nghiệp.
- Quản lý nhà nước về CNHT còn yếu: nhiều lĩnh vực sản xuất CNHT chưa có trong hệ thống thống kê quốc gia; chưa có tiêu chuẩn quốc gia về CNHT; chưa có cơ sở dữ liệu về CNHT, nguồn lực đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, chưa tương xứng với quy mô và vai trò của ngành CNHT.
IV. Trách nhiệm của Bộ Công Thương trong quá trình thực hiện các mục tiêu tại Quy hoạch
1. Trách nhiệm trong việc xây dựng các chính sách phát triển CNHT
1.1. Tình hình ban hành và thực hiện các chính sách trong giai đoạn từ 2007 – 2015:
Nhằm thực hiện Quy hoạch, trong giai đoạn từ 2007 - 2015, Bộ Công Thương đã tham mưu trình Chính phủ ban hành các Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 quy định về chính sách phát triển một số ngành CNHT, Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 ban hành danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển và Quyết định số 1556/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ”. Tuy nhiên, hiệu lực của các chính sách này rất hạn chế, cụ thể:
* Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 12/2011/QĐ-TTg và 1483/QĐ-TTg
- Doanh nghiệp FDI: Hội đồng thẩm định Bộ Công Thương mới chỉ nhận được duy nhất 01 hồ sơ của Công ty TNHH Kyocera Việt Nam xin hưởng các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp với Dự án công nghiệp hỗ trợ linh kiện dán bề mặt. Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận đề xuất ưu đãi tại văn bản số 2538/VPCP-QHQT ngày 01 tháng 4 năm 2013 của Văn phòng Chính phủ. Tuy nhiên, các ưu đãi này được hưởng dựa trên cơ sở các ưu đãi của Luật Công nghệ cao;
- Doanh nghiệp trong nước: không có dự án nào.
* Quyết định số 1556/QĐ-TTg
Quyết định số 1556/QĐ-TTg được ban hành nhưng còn một số hạn chế, đặc biệt là thủ tục bố trí kinh phí còn phức tạp, liên quan đến các nguồn vốn từ các nguồn khác nhau do nhiều Bộ ngành quản lý.
Qui mô:
+ Tổng kinh phí: 180 tỷ đồng từ năm 2013 đến năm 2020;
+ Số lượng doanh nghiệp: khoảng 300 doanh nghiệp tham gia và 100 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng.
Theo số liệu thống kê trong ngành công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) bình quân của doanh nghiệp SXCN là 90 tỷ đồng/năm, giá trị SXCN của người lao động tạo ra là 0,7 tỷ đồng/năm. Với số lượng 100 doanh nghiệp là nhà cung ứng như trên, giá trị SXCN tạo ra chỉ khoảng 9.000 tỷ đồng (khoảng 450 triệu USD), chưa đến 1% so với nhu cầu nhập khẩu sản phẩm CNHT hiện nay (hơn 50 tỷ USD). Như vậy, có thể đánh giá, Đề án có quy mô rất nhỏ so với nhu cầu phát triển. Đề án được ban hành từ cuối năm 2012, tuy nhiên cũng chưa triển khai được do không bố trí được vốn.
1.2. Nguyên nhân kém hiệu quả của các chính sách
Từ thực tiễn tình hình thực hiện các chính sách trên, có thể thấy Chính phủ mà trực tiếp là Bộ Công Thương trong giai đoạn 2007 – 2010 chưa đưa ra được những chính sách mạnh mẽ, thông thoáng để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ trong nước, cụ thể:
- Các ưu đãi chưa thực sự phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT trong nước, bởi các sản phẩm CNHT phụ thuộc vào nhà sản xuất chính, thường là các doanh nghiệp toàn cầu. Chi phí đầu tư ban đầu để sản xuất sản phẩm CNHT cao hơn nhiều so với các sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thông thường do các yêu cầu rất cao của sản phẩm và tính phụ thuộc của nó. Các ưu đãi này phải cao hơn rất nhiều so với ưu đãi hiện có cho các DNNVV ở các nội dung về hỗ trợ công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị sản xuất, ưu đãi tín dụng, đất đai và cơ sở hạ tầng.
- Các thủ tục hành chính trong các văn bản chính sách còn rườm rà, gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận các ưu đãi, hỗ trợ.
- Thiếu sự phối hợp trong thực hiện Quy hoạch: Quy hoạch được Bộ Công nghiệp nay là Bộ Công Thương phê duyệt và và đã chỉ định rõ: “Bộ Công nghiệp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo phát triển ngành theo quy hoạch đã được phê duyệt”. Tuy nhiên, các hoạt động đề cập tới trong Quy hoạch bao gồm cả các hoạt động xây dựng cơ sở pháp luật, xúc tiến đầu tư, hỗ trợ tài chính… không chỉ thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương, cần sự phối hợp của các Bộ, ngành liên quan, nhưng giữa Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan lại không có sự đồng nhất trong công tác phối hợp để phát triển công nghiệp hỗ trợ.
- Chương trình hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa thiết thực, bố trí nguồn kinh phí thực hiện không hợp lý, dẫn tới khó khăn trong công tác triển khai trên thực tế.
2. Trách nhiệm về quản lý nhà nước
Trong thời gian vừa qua, với tư cách là cơ quan quản lý ngành, Bộ Công Thương đã tương đối chậm trễ trong các hoạt động như xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về CNHT; phối hợp với các Bộ, ngành trong việc bố trí nguồn vốn thực hiện Đề án 1556 hỗ trợ các DNNVV trong lĩnh vực CNHT; xây dựng cơ sở dữ liệu về CNHT; phối hợp với các Hiệp hội – ngành hàng trong việc kết nối và tìm kiếm thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT trong nước; tổ chức các chương trình Xúc tiến thương mại nhằm giới thiệu và tạo cơ hội hợp tác, phát triển cho các doanh nghiệp…
Một phần nguyên nhân cho các hạn chế trên là do hiện nay, lực lượng cán bộ, công chức chuyên trách đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý nhà nước về CNHT tại Bộ Công Thương còn hạn chế. Mặt khác, các Bộ, ngành chưa thể hiện sự chủ động trong công tác phối hợp với Bộ Công Thương để thúc đẩy các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp.
V. Các giải pháp trong thời gian tới
1. Xây dựng thể chế
1.1. Ban hành Quy hoạch mới
Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội nói chung và với ngành công nghiệp hỗ trợ (CHNT) nói riêng, ngày 08 tháng 10 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 9028/QĐ-BCT phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, theo đó, mục tiêu chung của quy hoạch như sau:
- Xây dựng và phát triển công nghiệp hỗ trợ đảm bảo thực hiện mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa và xuất khẩu 25% giá trị sản xuất công nghiệp. Đến năm 2030, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng được 70% nhu cầu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa.
- Đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 1000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đủ năng lực cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam. Đến năm 2030, phấn đấu đạt khoảng 2000 doanh nghiệp.
- Về giá trị sản xuất công nghiệp, đến năm 2020, giá trị sản xuất công nghiệp của công nghiệp hỗ trợ chiếm khoảng 11% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp; đến năm 2030, chiếm khoảng 14% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp.
Mục tiêu cụ thể của quy hoạch:
Trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ thuộc ba lĩnh vực chủ yếu:
- Lĩnh vực linh kiện phụ tùng: phát triển linh kiện phụ tùng kim loại, linh kiện phụ tùng nhựa - cao su và linh kiện phụ tùng điện - điện tử, đáp ứng mục tiêu đến năm 2020 cung ứng được 60% nhu cầu sản phẩm linh kiện phụ tùng cho các ngành công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó giá trị xuất khẩu các sản phẩm linh kiện phụ tùng chiếm 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trong lĩnh vực này. Đến năm 2030, cung ứng được 80% nhu cầu trong nước, đẩy mạnh sản xuất các lĩnh vực sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao.
- Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may - da giày: phát triển nguyên vật liệu và phụ liệu phục vụ ngành dệt may - da giày, đáp ứng mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ cung cấp trong nước của ngành công nghiệp dệt may đạt 65%, ngành da giày đạt 75-80%, với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ sản xuất xuất khẩu.
- Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp công nghệ cao: phát triển sản xuất vật liệu, thiết bị hỗ trợ chuyên dụng, phần mềm và dịch vụ phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao; phát triển hệ thống doanh nghiệp cung cấp thiết bị hỗ trợ chuyên dụng, hỗ trợ chuyển giao công nghệ trong công nghiệp công nghệ cao. Hình thành các doanh nghiệp bảo trì, sửa chữa máy móc đạt tiêu chuẩn quốc tế, làm tiền đề phát triển doanh nghiệp sản xuất thiết bị, phần mềm phục vụ các ngành này. Hình thành hệ thống nghiên cứu phát triển và sản xuất vật liệu mới, đặc biệt là vật liệu điện tử.
1.2. Xây dựng các chính sách vĩ mô mới có hiệu quả hơn
Bộ Công Thương đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong đó xác định 06 ngành ưu tiên phát triển, gồm: Dệt may, Da – giày, Điện tử, Sản xuất lắp ráp ô tô, Cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp công nghệ cao. Cùng với đó là các quy định ưu đãi, hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển theo Phụ lục kèm theo Nghị định. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 55/2015/TT-BCT ngày 30 tháng 12 năm 2015 quy định trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với các ưu đãi quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP.
Hiện nay, Bộ Công Thương đang khẩn trương tiến hành xây dựng Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện đối với Chương trình. Dự kiến sau khi Chương trình được ban hành, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp cận với các hỗ trợ từ phía nhà nước đối với việc sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ một cách thuận lợi nhất.
Công nghiệp hỗ trợ là ngành đặc thù, mặc dù chủ yếu do hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa đảm nhiệm nhưng đòi hỏi thâm dụng vốn, kỹ thuật và nhân lực rất cao so với các ngành sản xuất khác, cũng là ngành chịu ảnh hưởng lớn từ sự hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đầu tư nước ngoài, vì vậy, trong thời gian tới, Bộ Công Thương dự kiến sẽ xây dựng các chính sách để ban hành Luật riêng về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Dự kiến Luật sẽ giải quyết các vấn đề lớn hiện nay trong chính sách phát triển CNHT như tín dụng đầu tư cho doanh nghiệp, các hỗ trợ về nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, quản trị hệ thống sản xuất, tổ chức sản xuất theo cụm nhóm (cluster) để tạo lợi thế cạnh tranh… nhằm tạo ra cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy sự phát triển của CNHT Việt Nam.
2. Tiếp tục triển khai Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ
Trong thời gian tới, cần đẩy mạnh thực thi các chính sách quy định tại Nghị định này, cụ thể:
- Bố trí nguồn vốn sớm hoàn thiện đầu tư xây dựng hệ thống Trung tâm phát triển công nghiệp hỗ trợ.
- Ban hành Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ với nguồn kinh phí đủ, đảm bảo để triển khai các hoạt động nhằm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, gồm:
+ Chương trình tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý quốc tế trong việc quản trị doanh nghiệp.
+ Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng ở trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.
+ Chương trình hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
+ Chương trình hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất thử nghiệm linh kiện, phụ tùng và vật liệu
+ Chương trình xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ trong và ngoài nước trên trang thông tin điện tử chuyên về công nghiệp hỗ trợ.
3. Các giải pháp để phát triển CNHT trong một số ngành cụ thể:
a) Ngành dệt may
Ngành dệt may là một trong số ít ngành công nghiệp của Việt Nam đã và đang tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu trên thế giới. Sản phẩm dệt may của Việt Nam có được thương hiệu tốt, xuất khẩu tới các thị trường có sức mua lớn như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,... Để ngành CNHT dệt may phát triển, cần tập trung một số vấn đề sau:
- Các chính sách hỗ trợ cho CNHT dệt may tương đối nhạy cảm về trợ cấp. Trong khi đó điểm nghẽn của các dự án CNHT dệt may là vấn đề môi trường với chi phí xử lý lớn. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp về công tác xử lý môi trường không vi phạm các cam kết quốc tế, trong các hiệp định thương mại tự do. Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ cần tập trung vào các dự án xử lý môi trường.
- Các dự án đầu tư sản xuất sợi, dệt, nhuộm, cần lựa chọn công nghệ phù hợp theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm và ít gây ô nhiễm môi trường.
- Đẩy mạnh việc đăng ký thương hiệu, bản quyền sản phẩm, quảng bá mạnh mẽ sản phẩm ngành dệt may của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Hỗ trợ ngành dệt may trong việc xúc tiến thương mại.
- Nhà nước tích cực triển khai việc hướng dẫn các doanh nghiệp dệt may về các điều khoản đã ký kết trong các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua các Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm, … để doanh nghiệp dệt may có cái nhìn bao quát cũng như cụ thể về các điều khoản trong các Hiệp định, từ đó, Nhà nước có những định hướng cho doanh nghiệp trong việc tham gia vào các chuỗi sản xuất toàn cầu cũng như xuất khẩu các mặt hàng dệt may tới các nước trong khu vực và trên thế giới.
b) Ngành ô tô
Ngoài các cơ chế, chính sách mà Nhà nước đã ban hành thì có 2 vấn đề của ngành ô tô cần quan tâm nghiên cứu và xem xét:
- Tỷ lệ sử dụng linh kiện, phụ tùng trong nước còn thấp dẫn đến công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô còn kém phát triển.
- Thị trường tiêu thụ nội địa của ô tô còn thấp, mặt khác sản phẩm ô tô của Việt Nam chưa đủ sức xuất khẩu, tham gia vào thị trường ô tô toàn cầu.
Giải pháp:
- Bộ Tài Chính phối hợp Bộ Công Thương yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô cần công bố chi tiết về giá cả, thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, những linh kiện, phụ tùng nhập khẩu hàng năm. Từ đó, Bộ Công Thương sẽ đánh giá cụ thể, định hướng các doanh nghiệp CNHT tập trung sản xuất một số linh kiện và phụ tùng từng bước thay thế nhập khẩu.
- Đặc thù của ngành công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô là sản phẩm phải đáp ứng được yêu cầu các doanh nghiệp lắp ráp. Nhà nước cần có những biện pháp hỗ trợ về mặt quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất, chuyển giao công nghệ…
c) Ngành điện tử
Những năm vừa qua, ngành công nghiệp điện tử đã có những bước tiến đáng kể. Các doanh nghiệp điện tử FDI đầu tư phần lớn các sản phẩm hướng đến thị trường xuất khẩu tập trung sản xuất tại Việt Nam như Samsung, LG, …. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này hầu như chỉ sử dụng nhân công để lắp ráp thành phẩm, sản phẩm hoàn chỉnh. Trong quá trình đàm phán cấp các hỗ trợ và ưu đãi, các điều kiện ràng buộc và lộ trình về sử dụng linh kiện và vật liệu sản xuất không có. Các thỏa thuận phát triển dự án mới chỉ khuyến khích sử dụng linh kiện và vật liệu, chứ không mang tính chất nghĩa vụ. Tỷ lệ nội địa hóa các linh kiện, phụ tùng ngành điện tử còn thấp. Để giải quyết vấn đề này, cần phải có cơ chế, biện pháp hành chính để tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử, cụ thể:
- Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp điện tử cần công bố chi tiết về giá cả, thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, ... những linh kiện, phụ tùng nhập khẩu hàng năm. Tăng cường tiếp xúc giữa cơ quan chính phủ, các tập đoàn để tìm kiếm thị trường cho các doanh nghiệp CNHT Việt Nam.
- Đặc thù của các sản phẩm linh kiện, phụ tùng ngành điện tử cần công nghệ cao, trong khi đó, doanh nghiệp điện tử của Việt Nam còn yếu về năng lực sản xuất, trình độ công nghệ. Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách như hỗ trợ cả doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp lắp ráp để chuyển giao công nghệ, hoàn thiện năng lực sản xuất, quản trị sản xuất để doanh nghiệp CNHT Việt Nam có thể tham gia được vào chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp FDI.
4. Các hoạt động quản lý nhà nước khác
Hiện nay, Chính phủ và Bộ Công Thương đang tích cực thực hiện các hoạt động nhằm tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp CNHT trong nước phát triển, cụ thể:
- Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về CNHT (ngày 01 tháng 11 năm 2016, Bộ Công Thương đã khai trương Trang thông tin điện tử về công nghiệp hỗ trợ - www.support.gov.vn. Nội dung dữ liệu của trang thông tin nhằm giới thiệu chung về ngành công nghiệp hỗ trợ; các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản liên quan đến hoạt động của ngành. Cùng với đó, trang thông tin sẽ giới thiệu các thông tin về dự án, đề án đã và sẽ thực hiện cũng như danh mục địa chỉ thư điện tử của ngành công nghiệp hỗ trợ… Đây là cầu nối của cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp);
- Chủ động tìm kiếm, hợp tác với các đối tác đặc biệt là đối tác nước ngoài nhằm mở rộng thị trường cho CNHT trong nước;
- Kêu gọi nguồn tài trợ ODA để hình thành Quỹ phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm giải quyết các khó khăn về tín dụng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Hợp tác với các nước (mà trước mắt là Hàn Quốc) để tiến hành đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp CNHT, đồng thời kết nối các doanh nghiệp CNHT trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài;
- Tích cực hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện việc xác nhận ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với các chính sách ưu đãi một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất.

