A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Báo cáo chung giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa

Việc xác định xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ xuất xứ hàng hóa là cơ sở để áp dụng các công cụ chính sách thương mại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu.

1. Tổng quan chung về Quy tắc xuất xứ hàng hóa

Thuật ngữ quy tắc xuất xứ hàng hóa dùng để chỉ tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nơi sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa). Việc xác định xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ xuất xứ hàng hóa là cơ sở để áp dụng các công cụ chính sách thương mại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Theo Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO, “một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước Xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng”.

Việc xác định xuất xứ hàng hóa, nhất là khi hàng hóa được sản xuất bởi nhiều quốc gia khác nhau, cần phải dựa trên các điều kiện, tiêu chí và cách xác định xuất xứ cụ thể. Tùy thuộc vào bộ quy tắc xuất xứ được áp dụng trong từng trường hợp, một hàng hóa có thể được coi là có hoặc không có xuất xứ tại chính quốc gia này.

Trên cơ sở tiêu chí xuất xứ, quy tắc xuất xứ được phân loại thành quy tắc xuất xứ thuần túy và quy tắc xuất xứ không thuần túy. Xuất xứ thuần túy là thuật ngữ áp dụng khi hàng hóa hoàn toàn được sản xuất ra tại một quốc gia. Đa số các quy tắc về xuất xứ thuần túy trên thế giới đều giống nhau về nội dung, và chủ yếu liên quan tới các mặt hàng nông lâm thủy hải sản và khoáng sản. Xuất xứ không thuần túy là xuất xứ hàng hóa có thành phần nhập khẩu. Trường hợp này xảy ra khi có nhiều hơn một quốc gia tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa và hàng hóa phải trải qua quá trình “chuyển đổi cơ bản” đủ để được coi là có xuất xứ. Mức độ “chuyển đổi cơ bản” thường căn cứ vào sự chuyển đổi mã số HS (CTC), hàm lượng giá trị gia tăng hay hàm lượng giá trị khu vực (RVC) hoặc công đoạn gia công cụ thể (SP).

Quy tắc xuất xứ có thể chia thành quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi. Theo đó, quy tắc xuất xứ ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan. Quy tắc xuất xứ không ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa trong các trường hợp như các biện pháp thương mại không ưu đãi về đối xử tối huệ quốc, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại.

Như vậy, quy tắc xuất xứ ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứ hàng hóa nhằm các mục đích ưu đãi như cho hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt trong các FTA và GSP. Ngược lại, quy tắc xuất xứ không ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứ hàng hóa nhằm các mục đích không ưu đãi như trừng phạt thương mại. Do sự gia tăng của các FTA, quy tắc xuất xứ ưu đãi đa dạng hơn hẳn so với quy tắc xuất xứ không ưu đãi. Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO chỉ quy định về quy tắc xuất xứ không ưu đãi, và quy tắc xuất xứ ưu đãi sẽ được các thành viên xây dựng khi đàm phán FTA hoặc cấp ưu đãi GSP. Mỗi thành viên WTO chỉ có một quy tắc xuất xứ không ưu đãi nhưng có thể có nhiều quy tắc xuất xứ ưu đãi khác nhau. Quy tắc xuất xứ không ưu đãi phải được áp dụng trên nguyên tắc không phân biệt đối xử, quy tắc xuất xứ ưu đãi không chịu sự ràng buộc này.

2. Văn bản quy phạm pháp luật trong nước về xuất xứ hàng hóa

Bộ Công Thương chịu trách nhiệm xây dựng cơ chế, chính sách về xuất xứ hàng hóa của Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu, đưa vào thực thi thủ tục hành chính về chứng nhận xuất xứ, bên cạnh đó nội luật hóa các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về quy tắc xuất xứ hàng hóa không ưu đãi và các FTA mà Việt Nam là thành viên về quy tắc xuất xứ hàng hóa ưu đãi.

- Năm 2006: Trước khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa. 

- Năm 2018: Nhằm cập nhật, bổ sung, sửa đổi quy định về xuất xứ hàng hóa và hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2018 quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa thay thế Nghị định số 19/2006/NĐ-CP nêu trên.

- Từ năm 2024 - năm 2026: Tiếp tục cập nhật, bổ sung quy định mới về xuất xứ hàng hóa, đặc biệt thực hiện chủ trương đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa thông qua việc mở rộng thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và Văn bản chấp thuận cho thương nhân tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định tại khoản 6 Điều 28 Nghị định số 146/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, Bộ Công Thương chủ trì xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP nêu trên.

Tính đến nay, Bộ Công Thương đã ban hành 53 Thông tư, 08 Quyết định hướng dẫn thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và thực hiện quy tắc xuất xứ theo cam kết FTA Việt Nam tham gia. Các văn bản quy phạm pháp luật về quy tắc xuất xứ hàng hóa, thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) được nội luật hóa trên cơ sở tuân thủ các quy định thuộc Chương Quy tắc xuất xứ hàng hóa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và cam kết quốc tế trong các FTA.

3. Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Nhà xuất khẩu cần chứng minh hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan thông qua Giấy Chứng nhận xuất xứ (C/O) hoặc chứng từ tự chứng nhận xuất xứ. Chứng từ này thể hiện hàng hóa đáp ứng các tiêu chí xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan trong FTA.

Do đó, một trong những lợi ích lớn nhất của quy tắc xuất xứ là công cụ để đảm bảo đúng hàng hóa có xuất xứ được hưởng ưu đãi thuế quan. Trong các FTA, C/O là một dạng chứng từ mà tổ chức cấp C/O dùng để xác nhận hàng hóa có liên quan đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong FTA đó. Vì lý do này, chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong các FTA được coi như là tấm “hộ chiếu” cho hàng hóa để được hưởng ưu đãi thuế quan.

Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá là tài liệu có ý nghĩa quan trọng với vai trò như sau: 

- Áp dụng biện pháp thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ (thông thường áp dụng với hàng hóa xuất xứ từ một số nước nhất định là đối tượng của các biện pháp thương mại này);

- Xác định hàng hóa nhập khẩu thuộc diện áp dụng thuế tối huệ quốc (MFN), thuế ưu đãi đặc biệt theo các FTA, hay diện ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP);

- Phục vụ công tác thống kê thương mại (ví dụ xác định lượng nhập khẩu, trị giá nhập khẩu theo thị trường);

- Phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định.

3.1. Các mẫu C/O được cấp trên Hệ thống eCoSys

Các mẫu C/O được cấp có thể chia thành hai nhóm chính: C/O ưu đãi (dùng để hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA) và C/O không ưu đãi (dùng để xác định xuất xứ không kèm ưu đãi thuế).

3.1.1. C/O ưu đãi

Đây là các mẫu C/O được cấp cho hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ của các FTA mà Việt Nam là thành viên, giúp hàng hóa được hưởng thuế suất ưu đãi khi nhập khẩu vào các quốc gia đối tác.

- C/O mẫu D: Dành cho các nước thuộc khối ASEAN (Hiệp định AFTA).

- C/O mẫu E: Dành cho các nước thuộc Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc (ACFTA).

- C/O mẫu AK: Dành cho các nước thuộc Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA).

- C/O mẫu AJ: Dành cho các nước thuộc Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Nhật Bản (AJCEP).

- C/O mẫu AI: Dành cho các nước thuộc Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AIFTA).

- C/O mẫu AANZ: Dành cho các nước thuộc Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA).

- C/O mẫu CPTPP: Dành cho các nước thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

- C/O mẫu VK: Dành cho hàng hóa xuất khẩu sang Hàn Quốc theo Hiệp định Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA).

- C/O mẫu VJ: Dành cho hàng hóa xuất khẩu sang Nhật Bản theo Hiệp định Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA).

- C/O mẫu EUR.1: Dành cho hàng hóa xuất khẩu sang Liên minh Châu Âu (EU) theo Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

- C/O mẫu EUR.1 UK: Dành cho hàng hóa xuất khẩu sang Vương quốc Anh theo Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA).

- C/O mẫu GSTP: Dành cho các nước thành viên Hiệp định Thương mại Hàng hóa Toàn cầu (GSTP).

- C/O mẫu A: Ban đầu được sử dụng cho các nước phát triển thuộc Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Liên Hợp Quốc.

3.1.2. C/O không ưu đãi

Loại C/O này xác nhận hàng hóa có xuất xứ tại một quốc gia nhưng không kèm theo cam kết về ưu đãi thuế quan theo FTA.

Các C/O này thường được sử dụng cho các mục đích quản lý thương mại, thống kê, hoặc khi hàng hóa không đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan đặc biệt.

- C/O mẫu B: Là giấy chứng nhận xuất xứ không ưu đãi, do cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cấp, xác nhận hàng hóa có xuất xứ Việt Nam theo quy tắc xuất xứ không ưu đãi. Mẫu này thường được yêu cầu khi xuất khẩu sang các thị trường không có FTA với Việt Nam hoặc khi hàng hóa không đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi.

- C/O mẫu CNM (Giấy chứng nhận hàng hóa không thay đổi xuất xứ): Được cấp khi hàng hóa đáp ứng tiêu chí không thay đổi xuất xứ theo quy định.

- Một số mẫu C/O khác theo yêu cầu của nước nhập khẩu như: BR9, DA59, P, Venezuela.

3.2. Cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp C/O

Nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho thương nhân trong quá trình đề nghị cấp C/O, Bộ Công Thương đã triển khai việc cấp C/O điện tử, cụ thể như sau:

- Kể từ ngày 01/01/2024, Bộ Công Thương đã triển khai việc cấp C/O điện tử (gồm chữ ký, con dấu điện tử và mã QR để xác minh tính xác thực của C/O) đối với các C/O mẫu E, AJ, AANZ, AHK, RCEP, S, VC, VJ, VN-CU, CPTPP (theo Thông báo số 1089/TB-XNK ngày 21/12/2023).

Đối với các C/O ưu đãi còn lại bao gồm AI, EUR.1, EUR.1 UK, EAV, X, Bộ Công Thương tiếp tục cấp bản giấy cho doanh nghiệp và không có mã QR trên C/O.

-  Kể từ ngày 01/7/2023, Việt Nam và Hàn Quốc đã thực hiện việc truyền dữ liệu C/O điện tử mẫu VK và mẫu AK theo Bản ghi nhớ về hệ thống trao đổi dữ liệu xuất xứ điện tử (EODES) nhằm tạo thuận lợi trong thực thi Hiệp định VKFTA và AKFTA (theo Thông báo số 500/TB-XNK ngày 23/6/2023).

Riêng đối với C/O mẫu D (theo Hiệp định ATIGA), Bộ Công Thương đã ban hành Quy trình cấp C/O qua Internet sang các nước ASEAN.

4. Thực trạng vi phạm xuất xứ hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu

Ngày nay, trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, tình trạng doanh nghiệp Việt Nam vi phạm về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu diễn ra ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn và nhiều trường hợp khó để có thể nhận biết một cách rõ ràng và chính xác hơn. Việc gian lận xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam hiện nay không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến uy tín đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam sang các nước đối tác trong các Hiệp định định thương mại tự do. Điều đó khiến cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phải đối mặt với rủi ro bị áp đặt các biện pháp phòng vệ thương mại từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ và EU.

Việc gian lận xuất xứ hàng hóa đang gia tăng ngày càng nhiều, phổ biến ở một số vấn đề về quy mô khi mà nhiều trường hợp thiết lập hệ thống sản xuất, tập kết hàng hóa tại nước ngoài (như Trung Quốc, Campuchia) rồi tìm cách đưa vào Việt Nam để sau đó thay đổi nước xuất xứ trước khi xuất khẩu sang nước thứ ba.

Bên cạnh đó, diện mặt hàng vi phạm đa dạng, tập trung vào các nhóm có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam hoặc đang bị áp thuế cao tại các nước khác như: gỗ ván ép, thiết bị điện tử, điện thoại, sắt thép, nhôm, dệt may và da giày.

- Thực hiện các công đoạn gia công, chế biến, sản xuất, lắp ráp đơn giản. Doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm, linh kiện về Việt Nam nhưng chỉ thực hiện các công đoạn gia công, lắp ráp đơn giản, không đủ điều kiện để hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Sau đó, doanh nghiệp kê khai hàng hóa đáp ứng xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu sang các nước khác trên thế giới. Doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện về chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp đơn giản, không đáp ứng hàm lượng giá trị Việt Nam cũng như không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa trước khi thực hiện việc tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trên lô hàng xuất khẩu đó.

- Chuyển tải bất hợp pháp: Hàng hóa quá cảnh qua Việt Nam nhưng bị tráo đổi hoặc dán nhãn mới để hợp thức hóa bộ hồ sơ xuất khẩu. Hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài được chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba.

- Hợp thức hóa hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O): Doanh nghiệp tìm cách hợp thức hóa các bộ hồ sơ để đề nghị cấp C/O cho hàng hóa có xuất xứ nước ngoài nhưng lại được khai báo là của Việt Nam. Điều này có thể bao gồm việc sử dụng C/O giả, C/O không hợp lệ, hoặc khai sai xuất xứ hàng hóa để được hưởng các mức thuế ưu đãi thuế quan theo Hiệp định thương mại tự do.

Những hành vi gian lận xuất xứ hàng hóa gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, một số hậu quả có thể kể đến như:

- Mất lợi thế cạnh tranh, mất uy tín thương hiệu chung của quốc gia. Các doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể mất ưu đãi thuế quan, khiến sản phẩm của họ trở nên đắt đỏ hơn so với đối thủ gian lận, dẫn đến mất thị phần. Từ đó, gây tổn hại danh tiếng và uy tín với các đối tác kinh doanh và người tiêu dùng mất niềm tin, ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động của doanh nghiệp.

- Rủi ro bị áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp: Hàng hóa Việt Nam có thể bị điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại bởi các nước nhập khẩu khi phát hiện gian lận, gây thiệt hại lớn về doanh thu và chi phí.

- Bị điều tra, kiểm tra và xử phạt: Doanh nghiệp vi phạm có thể đối mặt với các cuộc điều tra từ cơ quan hải quan, quản lý thị trường, dẫn đến việc bị phạt tiền, tịch thu hàng hóa và các hình phạt bổ sung khác.

Do những hậu quả gây ra có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam chẳng hạn như gây thất thu ngân sách nhà nước. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến xuất xứ hàng hóa làm giảm nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Từ đó, gây cản trở việc thực thi các FTA từ việc gian lận xuất xứ hàng hóa, khiến Việt Nam không tận dụng được tối đa các lợi ích mà các FTA mang lại. Bên cạnh đó, việc gian lận xuất xứ hàng hóa tạo ra môi trường kinh doanh không lành mạnh, nơi các doanh nghiệp gian lận có thể phát triển dựa trên sự bất công, làm tổn hại đến các doanh nghiệp hoạt động minh bạch hoặc làm suy giảm uy tín thương hiệu quốc gia.

Các Cơ quan xử lý vi phạm xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam

a) Bộ Công Thương

Bộ Công Thương là cơ quan cấp C/O và xây dựng chính sách. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm cấp C/O cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Do đó, Bộ Công Thương cũng là cơ quan đầu tiên có thẩm quyền xử lý vi phạm liên quan đến quy trình cấp C/O và có thể thu hồi hoặc tạm dừng cấp C/O nếu phát hiện gian lận xuất xứ hàng hóa.

b) Bộ Tài chính

Bộ Tài chính có trách nhiệm giám sát và kiểm tra tại cửa khẩu. Lực lượng Hải quan có vai trò then chốt trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận xuất xứ  hàng hóa đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh ngay tại các cửa khẩu biên giới và cảng biển. Họ kiểm tra thực tế hàng hóa, hồ sơ khai báo hải quan để xác định các dấu hiệu vi phạm.

c) Các cơ quan khác

- Bộ Tư pháp: Rà soát pháp luật, có vai trò trong việc hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp, bao gồm cả các quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa, nhằm khắc phục những kẽ hở pháp lý.

- Các cơ quan quản lý thị trường có vai trò trong việc kiểm soát hàng hóa lưu thông nội địa. Lực lượng Quản lý thị trường có thẩm quyền xử lý các hành vi gian lận xuất xứ đối với hàng hóa tiêu thụ trong nước, phối hợp với Hải quan và các lực lượng khác để phát hiện và xử lý vi phạm.

Sự phối hợp giữa các cơ quan này là chìa khóa để chống lại các hành vi gian lận xuất xứ hàng hóa ngày càng tinh vi. Việc bị xác định gian lận xuất xứ hàng hóa có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng và đa chiều, ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như uy tín quốc gia.

5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa của Việt Nam, bảo đảm phát huy lợi thế và khai thác có hiệu quả nguồn lực của đất nước

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc tham gia và thực thi nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP và các FTA song phương khác, xuất xứ hàng hóa đã trở thành một trong những vấn đề trọng tâm của quản lý nhà nước về ngoại thương.

Quy tắc xuất xứ không chỉ là yếu tố kỹ thuật quyết định hàng hóa có được hưởng ưu đãi thuế quan hay không, mà còn là "tấm khiên" bảo vệ nền sản xuất trong nước trước các hành vi gian lận thương mại và lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.

Các giải pháp được tổ chức thành ba nhóm lớn:

(1) giải pháp về thể chế, chính sách;

(2) giải pháp về bộ máy, tổ chức;

(3) giải pháp về công nghệ, tuyên truyền và đào tạo.

5.1. Mục tiêu

5.1.1. Mục tiêu tổng quát

Ngăn chặn, không để xảy ra các vụ việc gian lận thương mại trong xuất xứ hàng hóa; chủ động phát hiện, xử lý để giảm thiểu tác động của các vụ việc nếu có, qua đó thúc đẩy sản xuất và phát triển xuất khẩu thông qua việc tận dụng các cơ hội mở cửa thị trường từ các FTA và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm phát huy lợi thế và khai thác có hiệu quả nguồn lực của đất nước.

5.1.2. Các mục tiêu cụ thể

- Hoàn thiện hệ thống pháp lý về xuất xứ hàng hóa, kiểm tra và xác minh xuất xứ hàng hóa, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các cam kết quốc tế và thực tiễn thương mại hiện đại.

- Tăng cường năng lực bộ máy giám sát, kiểm tra để triển khai hiệu quả các giải pháp chống gian lận thương mại trong xuất xứ hàng hóa.

- Chủ động kiểm tra, xác minh để phát hiện các hành vi vi phạm, gian lận thương mại trong xuất xứ hàng hóa; xử lý nghiêm minh các vụ việc được phát hiện, bảo đảm tính răn đe.

- Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp và quản lý C/O, xây dựng hệ thống dữ liệu tích hợp và cơ chế cảnh báo sớm hiệu quả.

- Tăng cường công tác truyền thông, đào tạo để nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật về xuất xứ hàng hóa trong cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.

5.2. Giải pháp về thể chế, chính sách

5.2.1. Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật

- Xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Nghị định mới cần bổ sung các quy định về cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, C/O điện tử, quản lý rủi ro và chế tài xử lý vi phạm; đồng thời rà soát, điều chỉnh các tiêu chí xuất xứ cho phù hợp với bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu hiện đại.

- Sớm sửa đổi các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng mở rộng khung hình phạt, tăng nặng chế tài kinh tế để bảo đảm tính răn đe.

Bên cạnh phạt tiền, cần đa dạng hóa các hình thức chế tài ở cấp thấp như: tạm dừng cấp C/O, tăng cường tần suất kiểm tra hồ sơ, yêu cầu bổ sung chứng từ, kiểm tra tại nhà máy thường xuyên hơn.

- Rà soát và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư nước ngoài và công nghiệp hỗ trợ để ngăn chặn hiện tượng "đầu tư đội lốt" - tức là doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chỉ để thực hiện các công đoạn gia công đơn giản nhằm mượn xuất xứ Việt Nam.

5.2.2. Phát triển chính sách nâng cao năng lực sản xuất nội địa

- Xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư có trọng tâm vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, giúp doanh nghiệp tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và đáp ứng tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (RVC) trong các FTA.

- Áp dụng lộ trình phù hợp với cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đủ điều kiện chuyển sang tự chứng nhận, song song với việc củng cố bộ máy quản lý và tăng cường cơ chế giám sát.

5.2.3. Đàm phán và hội nhập quốc tế

- Tiếp tục đàm phán với các đối tác FTA nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hai chiều, đặc biệt thúc đẩy vấn đề số hóa và liên thông hệ thống C/O. Cụ thể: nâng cấp và kết nối dữ liệu, xây dựng cơ chế cấp và chấp nhận C/O điện tử giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu; đẩy nhanh việc thực hiện C/O điện tử đối với các FTA hiện đang thực hiện C/O bản giấy.

- Tổ chức các đoàn làm việc với một số thị trường trọng điểm có nguy cơ cao về gian lận xuất xứ hàng hóa để thống nhất biện pháp phối hợp ngăn chặn, xử lý và trao đổi cơ chế phối hợp trong vấn đề kiểm tra, xác minh hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các nước đối tác.

- Kêu gọi hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế như WCO, UNCTAD, WTO, ADB,…nhằm nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xuất xứ hàng hóa và hiện đại hóa trang thiết bị nghiệp vụ.

5.2.4. Phòng chống gian lận xuất xứ và kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa

- Nghiên cứu và xây dựng cơ chế phối hợp chính thức giữa các đơn vị thuộc Bộ Công Thương (Cục Xuất nhập khẩu, Cục Phòng vệ thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Vụ Pháp chế) và các cơ quan liên ngành (Bộ Tài chính, Bộ Công an) để phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp gian lận xuất xứ, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

- Cục Hải quan (Bộ Tài chính) theo dõi, nắm bắt những biến động bất thường trong hoạt động xuất khẩu sang một số thị trường, cung cấp thông tin cho Bộ Công Thương và các cơ quan có liên quan để có biện pháp kiểm tra, xác minh và xử lý phù hợp đối với các hành vi gian lận xuất xứ Việt Nam nhằm lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam nói chung và lợi ích của các doanh nghiệp chân chính nói riêng.

- Liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, hải quan và cơ quan, tổ chức cấp C/O để kiểm tra thực tế quy trình sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, nắm vững hoạt động sản xuất và nguồn nguyên liệu mà doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo việc sản xuất sản phẩm xuất khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn xuất xứ quy định.

- Các cơ quan, tổ chức cấp C/O chủ động xây dựng kế hoạch tăng cường công tác kiểm tra, xác minh hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu; kịp thời báo cáo để có biện pháp xử lý phù hợp.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức cấp C/O, bảo đảm tuân thủ nghiêm quy định về tiêu chí xuất xứ hàng hóa; nâng cao ý thức cảnh giác đối với việc lợi dụng chủ trương hỗ trợ xuất khẩu để thực hiện gian lận thương mại.

- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức cấp C/O trong việc trao đổi thông tin; tăng cường hướng dẫn về chuyên môn và nghiệp vụ các cán bộ cấp C/O, nâng cấp cơ sở vật chất, lưu trữ hồ sơ, chứng từ,…tạo thuận lợi cho việc xác minh xuất xứ khi có yêu cầu. 

- Nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện phòng vệ thương mại, tăng cường sử dụng, khai thác hệ thống cảnh báo sớm để nâng cao hiệu quả cảnh báo nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và vụ việc lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại nói riêng đối với cả hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu.

5.3. Giải pháp về bộ máy, tổ chức

Bộ máy tổ chức là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả thực thi chính sách. Dù có khung pháp lý tốt đến đâu, nếu bộ máy thực thi thiếu năng lực, phân tán và thiếu sự phối hợp thì việc quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa khó đạt được kết quả thực chất.

Nhóm giải pháp này tập trung vào ba trụ cột: kiện toàn tổ chức, bổ sung nhân lực và nâng cao năng lực giám sát.

5.3.1 Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp

Thực hiện phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa là định hướng quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và phát huy vai trò của chính quyền địa phương:

- Tiếp tục theo dõi sát tình hình triển khai tại địa phương để trực tiếp hướng dẫn quy trình, thủ tục, quy định liên quan đến việc thực hiện cấp C/O và Văn bản chấp thuận cho thương nhân tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa.  

- Tăng cường công tác kiểm tra thực thi pháp luật công tác quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa tại các địa phương.

- Chủ động rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Xuất nhập khẩu liên quan đến các Phòng Quản lý XNK khu vực sử dụng công chức của Sở Công Thương tại địa phương

5.3.2. Bổ sung, nâng cao chất lượng nhân lực

Khối lượng công việc về xuất xứ hàng hóa tăng tỷ lệ thuận với số lượng FTA và kim ngạch xuất khẩu. Hiện nay, biên chế của các đơn vị thực hiện chức năng này chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cần:

- Tăng thêm biên chế cho đơn vị tham mưu quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa để có thể đảm nhiệm tốt công việc trong giai đoạn hiện tại và chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, khi hoạt động hội nhập, tham gia các FTA ngày càng nhiều và khối lượng giấy chứng nhận xuất xứ cấp ra tăng tỷ lệ thuận với khối lượng hàng hóa xuất khẩu.

- Tăng cường, bổ sung nhân lực chuyên trách về công tác công tác kiểm tra, thanh tra về xuất xứ hàng hóa. Việc tăng cường này có thể dưới 2 hình thức:

+ Thành lập bộ phận thanh tra chuyên ngành trong đơn vị quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu là Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương). Bộ phận thanh tra này sẽ đảm nhiệm công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động vi phạm pháp luật về xuất nhập khẩu nói chung, trong đó có xuất xứ hàng hóa.

Phương án này sẽ tạo nên lực lượng chuyên trách về thanh tra, kiểm tra, giúp chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động này.

5.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ

- Tổ chức các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức và kỹ năng chuyên môn về xuất xứ hàng hóa cho cán bộ các cấp - đặc biệt là cán bộ thẩm định và cấp C/O, cán bộ thanh kiểm tra và cán bộ đàm phán FTA.

- Tổ chức các lớp tập huấn liên ngành cho cán bộ hải quan, quản lý thị trường, công an kinh tế, tòa án, viện kiểm sát về nghiệp vụ phát hiện, xác minh và điều tra các vụ việc gian lận xuất xứ.

- Đào tạo và đào tạo lại định kỳ đội ngũ cán bộ cấp C/O theo hướng chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ, đặc biệt trong bối cảnh thương mại thế giới diễn biến nhanh, phức tạp và các quy tắc xuất xứ trong FTA ngày càng đa dạng.

- Tổ chức tập huấn chuyên sâu theo từng khu vực địa lý (miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, miền Nam) để phù hợp với đặc thù ngành hàng và quy trình sản xuất của từng vùng, lãnh thổ.

5.4. Giải pháp về công nghệ và tuyên truyền, đào tạo

Công nghệ, tuyên truyền và đào tạo là nhóm giải pháp mang tính nền tảng dài hạn, tác động trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa.

Chuyển đổi số giúp nâng cao năng lực kiểm soát; tuyên truyền tạo nhận thức và ý thức tuân thủ; đào tạo bảo đảm đội ngũ thực thi có đủ năng lực chuyên môn.

5.4. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ

- Triển khai toàn diện hệ thống cấp C/O điện tử với tất cả các FTA, kết nối cơ sở dữ liệu với cổng thông tin một cửa quốc gia (NSW) và cổng thông tin ASEAN (ASW).

- Đàm phán và triển khai cơ chế trao đổi C/O điện tử song phương với các đối tác thương mại lớn, trước mắt tập trung vào Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước ASEAN có kim ngạch thương mại lớn với Việt Nam.

- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc và xác thực xuất xứ hàng hóa, học hỏi kinh nghiệm từ Singapore và một số nước EU đã triển khai thành công mô hình này.

5.5. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức

- Đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng (báo in, báo điện tử, truyền hình, mạng xã hội) về nguy cơ và tác hại của gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa đối với sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

- Phát huy vai trò của cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương, xây dựng chuyên mục chuyên biệt về xuất xứ hàng hóa với nội dung hướng dẫn, cảnh báo và cập nhật quy định mới nhất.

- Tăng cường công tác phổ biến quy tắc xuất xứ và hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp; cung cấp thông tin thường xuyên về các thay đổi trong quy tắc xuất xứ của các FTA.

- Khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu tuân thủ chặt chẽ quy định về chứng nhận xuất xứ, không tiếp tay cho hành vi gian lận; đồng thời phối hợp theo dõi thị trường và kịp thời cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý khi phát hiện dấu hiệu bất thường.

- Xây dựng tài liệu đào tạo chuẩn hóa về xuất xứ hàng hóa dưới nhiều hình thức (sách hướng dẫn, video tutorial, e-learning) để cán bộ địa phương và doanh nghiệp có thể tự học và cập nhật kiến thức.

- Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo lại và cập nhật kiến thức cho cán bộ cấp C/O khi có sự thay đổi về quy định xuất xứ trong các FTA hoặc khi có FTA mới có hiệu lực.

- Thiết lập chương trình trao đổi chuyên gia với các nước có kinh nghiệm tốt về quản lý xuất xứ như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản nhằm học hỏi và ứng dụng các mô hình quản lý tiên tiến vào thực tiễn Việt Nam.

5.6. Phát huy vai trò của Hiệp hội và doanh nghiệp

- VCCI và các Hiệp hội ngành hàng phát huy vai trò là cơ quan tham vấn cho Bộ Công Thương và các Bộ, ngành trong xây dựng chính sách; là cầu nối đề xuất ý kiến và phản ánh vướng mắc của doanh nghiệp để cơ quan quản lý giải quyết kịp thời.

- Các Hiệp hội ngành hàng tăng cường phổ biến thông tin về quy tắc xuất xứ, cơ chế hưởng ưu đãi thuế quan và cảnh báo về các rủi ro gian lận đến từng hội viên; tổ chức diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về tuân thủ quy định xuất xứ.

- Khuyến khích hiệp hội xây dựng bộ quy tắc ứng xử (code of conduct) về xuất xứ hàng hóa cho các doanh nghiệp thành viên, tạo áp lực tuân thủ từ bên trong ngành hàng.

- Doanh nghiệp cần nghiên cứu và thực hiện đúng các quy định về xuất xứ hàng hóa; đầu tư kinh phí thích đáng cho việc nghiên cứu cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và tiêu chuẩn xuất xứ của từng thị trường cụ thể.

- Đào tạo cán bộ chuyên trách về C/O trong nội bộ doanh nghiệp, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ về nguồn gốc nguyên liệu và quy trình sản xuất để bảo đảm đáp ứng tiêu chí xuất xứ và sẵn sàng chứng minh khi có yêu cầu hậu kiểm.

- Ứng dụng công nghệ số và các giải pháp truy xuất nguồn gốc trong quản lý chuỗi cung ứng, hướng tới mô hình chuỗi cung ứng minh bạch, có thể kiểm chứng - đây sẽ là lợi thế cạnh tranh quan trọng trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc.

- Mở rộng quan hệ kinh doanh với đối tác thuộc các nước cho hưởng ưu đãi cộng gộp xuất xứ trong ASEAN và các FTA khác, nhằm tăng hàm lượng nội địa khu vực và tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan theo nguyên tắc cộng gộp./.


Tác giả: Nhóm tác giả Phòng Xuất xứ hàng hóa - Cục Xuất nhập khẩu
Nguồn:(TTXVN/Vietnam+) Copy link

Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website