A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bộ Công Thương Họp báo thường kỳ quý II/2026

Chiều 7/7, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ quý II/2026 của Bộ.

Tham dự họp báo có đại diện Lãnh đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ và hơn 100 Nhà báo, Phóng viên đến từ các cơ quan thông tấn báo chí.

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, người phát ngôn của Bộ Công Thương đã chủ trì cuộc họp báo
Họp báo thường kỳ quý II

Báo cáo tại buổi họp báo, bà Mai Thu Hiền - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại, xung đột địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, cùng với biến động của thị trường năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu đã tạo nhiều sức ép đối với hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư.

Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương đã bám sát chỉ đạo của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp, bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển thị trường trong nước và thúc đẩy xuất khẩu, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP 8,18% của cả nước trong 6 tháng đầu năm.

Về bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia: Trong điều kiện nhu cầu năng lượng tăng cao và thị trường năng lượng thế giới biến động mạnh, Bộ Công Thương đã chủ động điều hành, bảo đảm cung ứng đầy đủ điện, xăng dầu và các nguồn năng lượng thiết yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Hệ thống điện quốc gia được vận hành an toàn, ổn định; sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu đạt khoảng 171,07 tỷ kWh, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với xăng dầu, Bộ đã theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế, kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành phù hợp, phối hợp với các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung, ổn định thị trường trong nước, không để xảy ra gián đoạn nguồn cung ngay cả trong thời điểm xung đột Trung Đông làm gia tăng biến động giá dầu thế giới. Đồng thời, Bộ đã tham mưu triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học từ ngày 01/6/2026, góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh và bền vững.

Về sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi tích cực và giữ vai trò là động lực tăng trưởng của nền kinh tế: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%). Nhiều địa phương đạt mức tăng trưởng công nghiệp rất cao như Hà Tĩnh, Ninh Bình, Phú Thọ, Nghệ An, Thái Nguyên và Bắc Ninh; đến hết 6 tháng đầu năm, có 13/34 địa phương đạt hoặc vượt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp cả năm. Tuy nhiên, vẫn còn 15/34 địa phương chưa đạt mục tiêu, đòi hỏi phải tăng tốc mạnh mẽ trong nửa cuối năm.

Về thị trường trong nước tiếp tục phát huy vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá cao trong quý II/2026 ước tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, ước tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, tiệm cận mục tiêu của cả năm; nguồn cung hàng hóa được bảo đảm, thị trường cơ bản ổn định, không để xảy ra thiếu hàng hoặc biến động bất thường đối với các mặt hàng thiết yếu. Bộ Công Thương đã triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, kết nối cung cầu, phát triển hệ thống phân phối, thương mại điện tử và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, qua đó góp phần củng cố sức mua trong nước và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường.

Về xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế: Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 156,6 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó:

Xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước (khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26,0%, chiếm 79,9%); Có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 62,6%); Xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 239,8 tỷ USD, chiếm 90,0% tổng kim ngạch xuất khẩu; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD (xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 75,3 tỷ USD tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước).

Nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước (khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỷ USD, tăng 24,3%; khu vực FDI đạt 204,71 tỷ USD, tăng 37,3%); có 38 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,1% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 51,0%); Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD (nhập siêu từ Trung Quốc 77,3 tỷ USD, tăng 39,0%). Nhập khẩu tăng chủ yếu ở nhóm máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, phản ánh xu hướng mở rộng đầu tư và năng lực sản xuất của doanh nghiệp (Nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 266,4 tỷ USD, chiếm 94,1%; trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%).

Cán cân thương mại hàng hóa tháng 6 nhập siêu 2,64 tỷ USD. Tính chung sáu tháng nhập siêu 16,65 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,95 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,3 tỷ USD.

Bộ Công Thương đã chủ động khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời tăng cường cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và các yêu cầu mới về phát triển xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải carbon.

Để triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ; chủ động theo dõi sát diễn biến tình hình để kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành phù hợp, tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.

Trước hết, tiếp tục bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện, xăng dầu và các nguồn năng lượng thiết yếu; đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện, lưới điện trọng điểm và triển khai hiệu quả Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.

Thứ hai, thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghệ cao; phối hợp với các địa phương đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp, năng lượng có khả năng đưa vào vận hành ngay trong năm 2026.

Thứ ba, phát triển mạnh thị trường trong nước, triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, phát triển hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử, logistics; tăng cường quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao chất lượng tăng trưởng thương mại, tiếp tục đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các FTA, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường nhập khẩu và nâng cao năng lực phòng vệ thương mại.

Đồng thời, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân và đại diện các đơn vị chức năng thuộc Bộ đã trả lời nhiều câu hỏi của phóng viên liên quan đến những vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương được dư luận xã hội quan tâm.

Phóng viên Ngọc An (Báo Tuổi Trẻ TP. Hồ Chí Minh):

Câu hỏi 1: Trước đây, Cục Điện lực đã xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà, trong đó có đề xuất sử dụng ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương để hỗ trợ người dân lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ điện, đặc biệt là điện sinh hoạt, ngày càng tăng, xin Bộ Công Thương cho biết việc xây dựng chính sách này đang được triển khai đến đâu, đã trình Chính phủ hay chưa và dự kiến khi nào sẽ được ban hành?

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Về chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình lắp đặt điện tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện, Bộ Công Thương đã xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định. Hiện nay, Quyết định nêu trên chưa được ban hành, do cần xác định nguồn ngân sách khả thi và cần có sự thống nhất về đầu mối tín dụng thực hiện chính sách.

Tuy nhiên, Luật Điện lực cũng đã giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện kinh tế-xã hội từng thời kỳ để ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp tại địa phương.

Bên cạnh đó, ngày 26/6/2026 vừa qua, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 243 trong đó sửa đổi một số quy định về phát triển điện mặt trời mái nhà. Nghị định này đã có tạo điều kiện rất luận lợi cho người dân trong việc phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.

Câu hỏi 2: Liên quan đến đề xuất của EVN về việc đầu tư bổ sung khoảng 1.700 MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), quan điểm và định hướng xử lý của Bộ Công Thương đối với đề xuất này như thế nào?

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Theo Quy hoạch phát triển điện quốc gia đã định hướng phát triển hệ thống pin lưu trữ (BESS) phục vụ nhu cầu hệ thống và kết hợp với năng lượng tái tạo, bố trí phân tán gần các trung tâm nguồn điện gió, điện mặt trời hoặc trên hệ thống điện tại các trung tâm phụ tải. Đến năm 2030 dự kiến đạt công suất khoảng 10.000 - 16.300 MW. Trong đó, việc phát triển điện mặt trời tập trung phải kết hợp với lắp đặt pin lưu trữ với tỷ lệ tối thiểu 10% công suất và tích trong 2 giờ.

Bộ Công Thương cũng đã phân bổ quy mô công suất BESS cho các địa phương cũng như EVN để làm cơ sở triển khai đầu tư xây dựng theo quy định. Trong đó, EVN đã giao chỉ tiêu lắp đặt theo từng giai đoạn cho các Tổng công ty điện lực miền Bắc, miền Trung, miền Nam, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay, Tổng công ty Điện lực miền Bắc và Tổng công ty Điện lực Hà Nội là các khu vực có phụ tải tăng cao và khả năng cung ứng điện còn khó khăn đang triển khai xây dựng, lắp đặt hệ thống lưu trữ này trên hệ thống lưới điện phân phối tại các trạm biến áp 110 kV. Ngoài ra, chủ đầu tư các dự án điện mặt trời tập trung cũng nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc triển khai lắp đặt BESS theo quy định trong quá trình triển khai thực hiện dự án, đồng thời các địa phương cũng rất tích cực đề xuất lắp đặt quy mô BESS độc lập trên địa bàn để phục vụ nhu cầu hệ thống.

Câu hỏi 3: Hiện nay, tình trạng đường nhập lậu, đặc biệt từ Thái Lan, đang gây nhiều khó khăn cho người trồng mía và ngành sản xuất đường trong nước. Trong khi đó, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk đã kiến nghị tiếp tục áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng đường, đồng thời tăng cường kiểm soát đường nhập lậu. Xin Bộ Công Thương cho biết sẽ có những giải pháp gì để bảo vệ ngành mía đường trong nước?

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại trả lời:

Về nội dung liên quan đến việc tiếp tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với đường mía nhập khẩu từ Thái Lan, xin được trao đổi như sau.

Biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm đường mía nhập khẩu từ Thái Lan được Bộ Công Thương áp dụng từ ngày 15/6/2021. Theo quy định của pháp luật, sau 5 năm áp dụng, cơ quan điều tra phải tiến hành rà soát để đánh giá hiệu quả của biện pháp và xem xét việc gia hạn.

Qua quá trình rà soát, đánh giá và thu thập số liệu từ ngành sản xuất đường và ngành mía trong nước, Cục Phòng vệ thương mại ghi nhận một số kết quả nổi bật.

Thứ nhất, biện pháp phòng vệ thương mại đã góp phần duy trì môi trường cạnh tranh công bằng giữa đường sản xuất trong nước và đường nhập khẩu từ Thái Lan.

Lượng đường nhập khẩu từ Thái Lan đã giảm mạnh, từ khoảng 924.000 tấn trước khi áp dụng biện pháp xuống còn khoảng 82.000 tấn trong niên vụ 2022-2023 và 274.000 tấn trong niên vụ 2024-2025.

Trong khi đó, sản lượng đường mía trong nước đã phục hồi rõ rệt. Đến niên vụ 2024-2025, sản lượng tăng khoảng 1,7 lần so với niên vụ 2020-2021. Doanh thu của ngành tăng khoảng 1,63 lần và lợi nhuận tăng khoảng 2,49 lần so với trước khi áp dụng biện pháp.

Nhiều vùng nguyên liệu trước đây bị thu hẹp đã được khôi phục, đặc biệt tại các địa phương còn nhiều khó khăn, nơi cây mía là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích trồng mía tăng từ khoảng 128.000 ha của niên vụ 2020-2021 lên khoảng 192.000 ha trong niên vụ 2024-2025. Sản lượng mía cũng tăng từ 6,74 triệu tấn lên 12,43 triệu tấn trong cùng giai đoạn.

Nhờ hiệu quả của biện pháp phòng vệ thương mại, năng suất mía được cải thiện từ 60,7 tấn/ha lên 73,3 tấn/ha. Đồng thời, biện pháp này cũng góp phần bảo đảm an sinh xã hội khi số hộ nông dân trồng mía tăng từ khoảng 151.000 hộ lên khoảng 225.000 hộ.

Có thể khẳng định, biện pháp phòng vệ thương mại đã phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ ngành sản xuất đường trong nước, nâng cao năng lực sản xuất cũng như góp phần bảo đảm thu nhập cho người trồng mía.

Tuy nhiên, Cục Phòng vệ thương mại cũng đánh giá rằng nếu chấm dứt biện pháp tại thời điểm hiện nay thì vẫn tồn tại nguy cơ tái diễn hành vi bán phá giá và trợ cấp từ phía các doanh nghiệp Thái Lan. Mặc dù ngành sản xuất đường trong nước đã có sự phục hồi, nhưng vẫn còn khá nhạy cảm trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu và có thể tiếp tục chịu thiệt hại đáng kể nếu biện pháp phòng vệ thương mại không còn được áp dụng.

Trên cơ sở đó, Cục Phòng vệ thương mại đã trình lãnh đạo Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1309 về việc tiếp tục gia hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với đường mía nhập khẩu từ Thái Lan.

Theo quyết định này, biện pháp sẽ tiếp tục được gia hạn thêm 5 năm kể từ ngày 15/6/2026.

Câu hỏi 4: Liên quan đến dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu, vừa qua Phó Thủ tướng đã chỉ đạo hoàn thiện dự thảo, trong đó có nội dung đáng chú ý là trao quyền quyết định giá bán lẻ xăng dầu cho thương nhân. Xin Bộ Công Thương cho biết việc tiếp thu và hoàn thiện chỉ đạo này đang được triển khai như thế nào? Đồng thời, việc cắt giảm các khâu trung gian trong hệ thống phân phối xăng dầu sẽ được thực hiện ra sao và dự kiến khi nào Nghị định sẽ được ban hành?

Bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước

Bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước trả lời: 

Nghị định thay thế các nghị định về kinh doanh xăng dầu là một trong những văn bản khó, có phạm vi điều chỉnh rộng, nội dung phức tạp. Đến nay, dự thảo đã trải qua 4 lần lấy ý kiến các thành viên Chính phủ. Trong tháng 6, Bộ Công Thương đã hoàn thành việc giải trình ý kiến thành viên Chính phủ lần thứ tư theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính, giảm các khâu trung gian và rà soát, tái cơ cấu đầu mối kinh doanh xăng dầu.

Ngày 24/6/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đã tổ chức cuộc họp về Nghị định kinh doanh xăng dầu, và có ý kiến chỉ đạo tiếp thu ý kiến các Bộ, ngành, lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng chịu tác động, trình Chính phủ trong tháng 7/2026. Trên cơ sở đó, ngày 1/7, Bộ Công Thương đã hoàn thiện dự thảo theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực, đồng thời lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trong tháng 7.

Câu hỏi 5: Thời gian qua Bộ Công Thương đã có nhiều thông tin về việc triển khai sử dụng xăng sinh học. Tuy nhiên, vẫn còn ý kiến cho rằng các đánh giá về hiệu quả giảm ô nhiễm môi trường của xăng sinh học chưa thực sự thuyết phục. Bộ Công Thương có thêm thông tin hoặc cơ sở khoa học nào để làm rõ vấn đề này?

Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công

Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công trả lời:

Bảo vệ môi trường là một trong các mục tiêu chính của lộ trình chuyển đổi xăng khoáng sang sử dụng xăng E10, ý nghĩa bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí CO2 đã được khẳng định, giảm đốt mỗi lít xăng khoáng sẽ giúp giảm khoảng 2,3 đến 2,5 kg CO₂ phát thải ra môi trường, đây là con số được xác định trên cơ sở các tính toán khoa học về phản ứng hóa học trong quá trình đốt cháy nhiên liệu. Bên cạnh đó, việc phối trộn etanol vào xăng làm tăng hàm lượng ôxy trong hỗn hợp nhiên liệu, giúp quá trình cháy trong buồng đốt diễn ra triệt để hơn. Nhờ đó, hiệu suất cháy được cải thiện, giảm lượng nhiên liệu cháy không hết qua đó hạn chế phát sinh một số khí gây ô nhiễm môi trường như CO, HC, Benzen-Toluene trong khí thải động cơ.

Để đánh giá tác động thực tế của việc chuyển đổi sang sử dụng xăng E10 đến môi trường, Bộ Công Thương đã đề nghị Trung tâm Quan trắc môi trường (Trung tâm) thuộc Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cung cấp số liệu quan trắc môi trường tại các thành phố lớn thời điểm trước và sau ngày 01/6/2026. Bộ Công Thương đã nhận được số liệu quan trắc do Trung tâm thực hiện tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, mỗi thành phố quan trắc tại 03 vị trí khác nhau tại 02 thời điểm cuối tháng 5 và cuối tháng 6/2026.

Kết quả quan trắc cho thấy, mặc dù số liệu tại 02 thành phố và tại các điểm quan trắc còn có một số khác biệt nhỏ, song, nhìn chung các chỉ tiêu về CO, SO₂, NOx trong không khí ở hai thành phố có sự cải thiện theo hướng tích cực.

Tuy nhiên, Bộ Công Thương đánh giá, kết quả quan trắc tại 03 vị trí và tại hai thời điểm ở hai thành phố lớn nhất nước, mật độ giao thông lớn chỉ là kết quả phản ánh tại 02 thời điểm lấy số liệu tại 03 vị trí trong thành phố, chưa phải là kết quả bền vững phản ánh thực chất tác động của việc sử dụng xăng sinh học, do số liệu quan trắc tại một thời điểm bị tác động rất lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh như mật độ giao thông, khí hậu, thời tiết tại thời điểm lấy số liệu… vì vậy, để khẳng định chính xác ảnh hưởng của xăng E10 đến môi trường không khí, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với Trung tâm thực hiện quan trắc liên tục, trong thời gian dài, số lượng điểm đo nhiều hơn, ở nhiều địa phương hơn để có được số liệu đánh giá chính xác về tình hình chất lượng không khí được cải thiện ở mức độ nào và sẽ thông tin kịp thời đến các đơn vị truyền thông.

Phóng viên Tuyết Lan (Báo Lao động):

Câu hỏi 1: Trong dự thảo sửa đổi các quy định về điện lực, Bộ Công Thương đề xuất áp dụng biểu giá điện theo thời gian sử dụng (giờ cao điểm, thấp điểm, bình thường) đối với khách hàng sinh hoạt khi đáp ứng đủ điều kiện kỹ thuật. Tuy nhiên, khung giờ cao điểm hiện nay từ 17 giờ 30 đến 22 giờ 30 cũng là thời điểm các hộ gia đình sử dụng điện nhiều nhất. Bộ đã đánh giá tác động của chính sách này đối với người dân như thế nào? Nếu được triển khai, biểu giá mới sẽ ảnh hưởng ra sao đến thói quen sử dụng điện và chi phí sinh hoạt của các hộ gia đình?

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định 963/QĐ-BCT ngày 22/4/2026 quyết định về khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường mới của hệ thống điện quốc gia (theo đó khung giờ cao điểm mới là từ 17h30-22h30), tuy nhiên chưa áp dụng trên thực tế, khung giờ cao điểm hiện hành đang áp dụng là từ 9h30-11h30 và từ 17h-20h.

Hiện nay khách hàng sử dụng điện sinh hoạt đang áp giá bậc thang tăng dần. Theo số liệu sử dụng điện thực tế thì sản lượng điện tiêu thụ của nhóm khách hàng sinh hoạt là tương đối cao, chỉ đứng sau khu vực công nghiệp, đồng thời việc sử dụng điện của khách hàng sinh hoạt chủ yếu tăng cao vào buổi tối. Chính vì vậy, trong dự thảo sửa đổi Luật Điện lực, Bộ Công Thương đang nghiên cứu, tính toán để có thể, trong một thời gian phù hợp, áp dụng biểu giá bán điện theo thời gian sử dụng đối với khách hàng sử dụng điện sinh hoạt đáp ứng những điều kiện nhất định để khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả hơn. Ví dụ như các khách hàng có các thiết bị điện công suất lớn, tiêu thụ điện nhiều và có khả năng dịch chuyển sử dụng điện khỏi giờ cao điểm để giảm việc huy động nhiều nguồn điện đắt tiền trong hệ thống.

Hoặc khi có đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng, ví dụ như hệ thống công tơ. Trước đây, đối với điện sinh hoạt chúng ta chỉ lắp công tơ đo theo lũy tiến, tức là chỉ có một giá trị về sản lượng điện tiêu thụ, không phân biệt sản lượng theo các khung giờ cao điểm, thấp điểm. Nếu áp dụng giá điện theo giờ thì phải thay đổi hệ thống công tơ để đo được sản lượng cho 03 khung giờ, đồng thời các điều kiện kỹ thuật, đường truyền cũng phải đáp ứng.

Bộ Công Thương đang đề xuất áp dụng giá điện theo thời gian sử dụng cho khách hàng sinh hoạt trong quá trình xây dựng Luật Điện lực sửa đổi, tuy nhiên, còn phải đánh giá tác động đối với toàn xã hội cũng như đối với khách hàng sử dụng điện thì mới xác định được lộ trình và tệp khách hàng áp dụng. Khi đã có căn cứ pháp lý tại Luật Điện lực sửa đổi, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tính toán, cân đối cùng với các điều kiện áp dụng đối với khách hàng sinh hoạt cũng như điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật để cụ thể hóa lộ trình thực hiện tại các văn bản hướng dẫn Luật.

Câu hỏi 2: Cũng trong dự thảo sửa đổi, Bộ Công Thương đề xuất từng bước xóa bỏ mô hình một đơn vị mua điện duy nhất của EVN thông qua việc chuyển tiếp các hợp đồng mua bán điện đã ký. Bộ đánh giá như thế nào về những khó khăn có thể phát sinh trong quá trình chuyển tiếp các hợp đồng hiện hữu và sẽ có giải pháp gì để bảo đảm quyền lợi của các bên?

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam được định hướng phát triển theo 3 cấp độ phát triển tăng dần, bao gồm: (1) Phát điện cạnh tranh, (2) Bán buôn điện cạnh tranh và (3) Bán lẻ điện cạnh tranh. Trong đó, thị trường bán buôn điện cạnh tranh đã chính thức vận hành từ năm 2019. Đến nay, sau hơn 14 năm vận hành thị trường điện (tính từ giai đoạn phát điện cạnh tranh), mặc dù chúng ta đã hình thành được sự cạnh tranh tại khâu phát điện với sự tham gia tích cực của cả các đơn vị phát điện thuộc sở hữu nhà nước cũng như tư nhân, nhưng thực tế thị trường bán buôn điện cạnh tranh vẫn chưa thực sự vận hành hoàn chỉnh và đúng nghĩa.

Nguyên nhân cốt lõi là do về bản chất, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn đang là đơn vị mua điện duy nhất trên thị trường, dẫn đến việc các chủ đầu tư nhà máy điện có rất ít lựa chọn để đàm phán hợp đồng mua bán điện. Vì vậy, việc thực hiện chuyển tiếp các hợp đồng mua bán điện (PPA) đã ký kết giữa EVN và các đơn vị phát điện hiện hữu sang cho các Tổng công ty Điện lực trực thuộc là bước đi rất cần thiết để hình thành nhiều đơn vị mua điện độc lập cạnh tranh với nhau, đưa thị trường bán buôn điện cạnh tranh vận hành ngày càng thực chất và hiệu quả hơn, đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với kinh nghiệm quốc tế. Do đầu ra của thị trường bán buôn chính là đầu vào của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, nên nếu không có một thị trường bán buôn hoàn chỉnh đúng nghĩa, chúng ta sẽ không thể hình thành được thị trường bán lẻ điện cạnh tranh một cách hiệu quả - tăng cường quyền lựa chọn của khách hàng sử dụng điện, đơn vị bán lẻ điện trong việc tiếp cận và lựa chọn đơn vị cung cấp điện phù hợp với nhu cầu theo đúng tinh thần tại Nghị quyết 70-NQ/TW.

Khi thực hiện chuyển tiếp các hợp đồng mua bán điện hiện hữu, Bộ Công Thương đánh giá khó khăn lớn nhất có thể phát sinh đến từ việc các Tổng công ty Điện lực có cơ cấu khách hàng và đặc thù địa bàn tiêu thụ khác nhau, dẫn đến năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh và chi phí mua điện không đồng đều. Để xử lý bài toán này và bảo đảm tối đa quyền lợi của các bên, Bộ Công Thương đang nghiên cứu, xây dựng các quy định về chuyển đổi hợp đồng theo hướng:

- Thứ nhất, có lộ trình thực hiện phù hợp và kiểm soát số lượng bên mua ở mức hợp lý trong giai đoạn đầu, nhằm tránh tình trạng phát sinh quá nhiều đơn vị bán buôn điện tiếp nhận các hợp đồng hiện hữu, bảo đảm không làm xáo trộn quá nhanh đến việc thực hiện các cam kết, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mua bán điện hiện hữu.

- Thứ hai, bảo đảm chuyển giao nguyên trạng các cam kết về giá điện và sản lượng điện trong các hợp đồng hiện hữu.

- Thứ ba, tính toán phân bổ danh sách đối tượng chuyển giao một cách khoa học, có xét đến khả năng cạnh tranh thực tế của từng đơn vị bán buôn điện nhằm đảm bảo biên độ chịu đựng rủi ro và khả năng thanh toán ổn định cho các nhà máy điện.

- Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện các quy định liên quan để các đơn vị có cơ sở triển khai thực hiện thống nhất và hiệu quả.

Cái thứ ba là câu hỏi của phóng viên Báo Dân trí về việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm mới và ảnh hưởng đến các khách hàng.

Vấn đề này hôm trước tôi cũng đã trả lời một lần rồi. Việc chuyển đổi giờ cao điểm từ hiện hành (là có 2 khung giờ cao điểm vào ban ngày từ 9h30-11h30 và buổi tối từ 17h-20h) sang khung giờ cao điểm vào buổi tối hoàn toàn (từ 17 giờ 30 đến 20 giờ 30) sẽ có tác động đến các khách hàng, có những đối tượng được hưởng lợi, cũng có những đối tượng bị ảnh hưởng.

Ví dụ, đối với nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh như các doanh nghiệp dệt may làm việc chủ yếu vào ban ngày thì giờ cao điểm buổi trưa không còn nữa. Họ sẽ được sử dụng điện theo giờ bình thường, tránh được giờ cao điểm và được mua điện với giá rẻ hơn.

Ngược lại, những khách hàng sử dụng điện lớn trong các ngành sản xuất, ví dụ như sản xuất thép, nếu sản xuất vào thời điểm cao điểm buổi tối thì sẽ rơi vào giờ cao điểm và phải chịu mức giá điện cao hơn.

Tuy nhiên, cũng có những khách hàng có thể điều chỉnh, chuyển dịch hoạt động sản xuất sang giờ thấp điểm ban đêm thì sẽ tránh được khung giờ cao điểm kéo dài vào buổi tối và mua điện theo khung giờ thấp điểm với mức giá rẻ hơn.

Với đối tượng thuộc nhóm kinh doanh dịch vụ như nhà hàng, khách sạn thì vu hướng trung tính hoặc bất lợi nhẹ do khung giờ cao điểm mới trùng với giờ cao điểm phục vụ ăn uống, lưu trú; tuy nhiên cũng phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng.

Như vậy, tác động sẽ có cả những đối tượng được hưởng lợi và cũng có những đối tượng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, tính toán của cả hệ thống là khuyến khích các khách hàng sử dụng điện lớn chuyển dịch phụ tải, tránh giờ cao điểm, chuyển sang sử dụng vào giờ thấp điểm ban đêm hoặc giờ bình thường để giảm công suất đỉnh của hệ thống, giảm áp lực cung cấp điện trong các thời gian cao điểm.

Các phóng viên tham dự họp báo

Phóng viên Quỳnh Thương (Báo Dân trí):

Câu hỏi 1: Từ đầu năm đến nay, Bộ Công Thương đã xử lý bao nhiêu trường hợp vi phạm về niêm yết giá, bán không đúng giá hoặc lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng giá bất hợp lý? Bộ đã chỉ đạo các Sở Công Thương rà soát tình hình điều chỉnh giá tại địa phương như thế nào? Vì sao nhiều mặt hàng vẫn chưa giảm giá và giải pháp trong thời gian tới là gì?

Bà Nguyễn Thúy Hiền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Liên quan vấn đề giá, về công tác quản lý giá, theo quy định của Luật Giá, các bộ, ngành được phân công quản lý giá hàng hóa, dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan. Đối với Bộ Công Thương, phạm vi quản lý và theo dõi giá tập trung vào các mặt hàng như xăng dầu, điện, khí, than, thép...

Thời gian qua, có ý kiến cho rằng khi giá xăng dầu giảm thì giá nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác vẫn chưa giảm tương ứng. Tuy nhiên, Bộ Công Thương chỉ được giao quản lý một số mặt hàng thuộc phạm vi chức năng theo quy định của Luật Giá, còn nhiều mặt hàng khác thuộc trách nhiệm quản lý của các bộ, ngành khác.

Đối với mặt hàng xăng dầu, do tác động của xung đột tại Trung Đông, giá xăng dầu thế giới đã tăng cao bất thường, kéo theo biến động của giá xăng dầu trong nước. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành nhằm ổn định thị trường xăng dầu, góp phần hỗ trợ kiểm soát lạm phát.

Tại kỳ điều hành gần nhất ngày 2/7, giá xăng trong nước đã giảm xuống thấp hơn mức ngày 26/2 - thời điểm trước khi xảy ra xung đột tại Trung Đông. Giá dầu cũng đã giảm về xấp xỉ mức của ngày 26/2. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện nay vẫn đang được hỗ trợ bởi các chính sách về thuế.

Mặc dù giá xăng dầu đã giảm về dưới mức trước thời điểm xảy ra xung đột, song vẫn có ý kiến cho rằng nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác chưa giảm theo. Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã chỉ đạo các bộ, ngành quản lý lĩnh vực tăng cường kiểm tra, giám sát, rà soát nguyên nhân giá hàng hóa, dịch vụ chưa điều chỉnh tương ứng khi giá xăng dầu giảm.

Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Công Thương đã yêu cầu các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định về giá đối với các mặt hàng thuộc phạm vi quản lý. Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng quản lý thị trường đã tổ chức kiểm tra việc thực hiện niêm yết và bán theo giá niêm yết, chủ yếu trong lĩnh vực xăng dầu, với 1.202 vụ kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính hơn 1,3 tỷ đồng.

Câu hỏi 2: Trong gần 300 phản ánh của người dân về việc sử dụng xăng E10 thời gian qua, Bộ Công Thương đã xác minh được bao nhiêu trường hợp liên quan đến chất lượng xăng và bao nhiêu trường hợp do phương tiện? Khi người dân phản ánh xe yếu, hao nhiên liệu hoặc hư hỏng sau khi sử dụng xăng E10, cơ chế giám định và xác định trách nhiệm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện như thế nào?

Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công trả lời:

Sau 1 tháng triển khai lộ trình xăng E10 trên toàn quốc, từ ngày 1/6 đến 29/6/2026, thông qua tổng đài và địa chỉ email tiếp nhận phản ánh của người tiêu dùng của Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Ủy ban) thuộc Bộ Công Thương đã tiếp nhận 293 phản ánh, trong đó 11 phản ánh qua tổng đài điện thoại và 282 phản ánh qua email.

Các phản ánh chủ yếu tập trung vào ba nhóm vấn đề: Thứ nhất là băn khoăn về chất lượng xăng E10, ảnh hưởng tiêu cực của xăng E10 đối với hiệu suất hoạt động và tuổi thọ các chi tiết động cơ. Thứ hai, trong giai đoạn đầu triển khai, một số người tiêu dùng phản ánh còn khó tìm điểm bán xăng E5. Thứ ba là một số phản ánh cho rằng sau khi sử dụng xăng E10, xe có hiện tượng yếu máy, khó khởi động hoặc chết máy.

Toàn bộ các phản ánh đều đã được Ủy ban tiếp nhận, xử lý theo đúng quy trình xử lý kiến nghị của người tiêu dùng. Tùy theo nội dung, các ý kiến phản ánh được chuyển đến các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ liên quan để xem xét, xử lý và phản hồi cho người tiêu dùng. Qua tổng hợp đến nay, tất cả các phản ánh đã được chuyển đến các đơn vị chức năng để xử lý và phản hồi tới người phản ánh.

Sau một tháng triển khai, lượng tiêu thụ xăng E5, E10 đạt khoảng 1 triệu m³, tương đương với mức tiêu thụ xăng E5 và xăng khoáng RON95 trước đây. Theo thông tin từ các doanh nghiệp đầu mối và thương nhân phân phối, đến thời điểm hiện nay các doanh nghiệp chưa nhận được phản ánh, khiếu nại chính thức nào liên quan đến chất lượng xăng E10 hoặc về việc xăng E10 gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất hoạt động hay làm hư hỏng động cơ phương tiện.

Những kết quả bước đầu cho thấy việc triển khai kinh doanh xăng E10 đã được Bộ Công Thương nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng trước khi thực hiện và bước đầu đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục theo dõi, tiếp nhận đầy đủ các ý kiến phản ánh của người tiêu dùng để kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.

Phóng viên Dương Hưng (Báo Tiền phong)

Câu hỏi 1: Sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu khoảng 16,6 tỷ USD. Trong bối cảnh cả nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Bộ Công Thương đánh giá tác động của tình trạng nhập siêu đối với mục tiêu tăng trưởng năm nay như thế nào? Bộ sẽ có giải pháp gì để kiểm soát nhập siêu trong những tháng cuối năm?

Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu

Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời:

Về câu hỏi liên quan đến tình hình nhập siêu trong 6 tháng đầu năm, xin được trao đổi với phóng viên như sau.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Trong cùng thời gian, kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 283,17 tỷ USD, qua đó cán cân thương mại ghi nhận mức nhập siêu khoảng 16,66 tỷ USD.

Để lý giải con số nhập siêu này, chúng ta cần nhìn sâu hơn vào cơ cấu các nhóm hàng nhập khẩu, đặc biệt là những nhóm hàng có kim ngạch và tỷ trọng lớn.

Thứ nhất là nhóm điện tử, máy vi tính và linh kiện. Trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 110 tỷ USD, tăng 62% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng rất cao và riêng nhóm hàng này đã chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Thứ hai là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác, với kim ngạch nhập khẩu khoảng 34,6 tỷ USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 12% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Như vậy, chỉ riêng hai nhóm hàng này đã chiếm khoảng 51% tổng kim ngạch nhập khẩu. Điều đó cho thấy trong thời gian qua, nhu cầu nhập khẩu linh kiện, máy móc, thiết bị phục vụ đầu tư, lắp đặt và sản xuất trong nước tăng rất mạnh.

Một nhóm hàng khác cũng có mức tăng đáng chú ý là năng lượng và nhiên liệu. Trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu các loại đạt khoảng 5,87 tỷ USD, tăng 73%; nhập khẩu dầu thô đạt khoảng 4,69 tỷ USD, tăng 17%; nhập khẩu than đạt khoảng 4,66 tỷ USD, tăng 21%.

Đối với mặt hàng xăng dầu, lượng nhập khẩu chỉ tăng khoảng 11%, trong khi trị giá nhập khẩu tăng mạnh do tác động của những diễn biến căng thẳng địa chính trị, làm giá nhập khẩu tăng và qua đó góp phần làm tăng kim ngạch nhập khẩu.

Ngoài ra, nhiều nhóm nguyên liệu đầu vào khác như sắt thép, hóa chất, chất dẻo và sản phẩm từ chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt may, da giày... cũng đều ghi nhận mức tăng. Đây đều là những nhóm nguyên liệu phục vụ trực tiếp cho sản xuất, đồng thời phản ánh nhu cầu đầu vào của nền kinh tế.

Như vậy, có thể thấy tình trạng nhập siêu có những tác động nhất định đến việc tính toán các chỉ tiêu kinh tế cũng như mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, nếu nhìn vào cơ cấu nhập khẩu hiện nay thì phần lớn đều là các mặt hàng nguyên liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và đầu tư. Đây cũng sẽ là nguồn lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong thời gian tới.

Vì vậy, nhập siêu có thể tạo ra áp lực nhất định trong ngắn hạn đối với một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, nếu đánh giá tổng thể cán cân thanh toán, ngoài cán cân thương mại chúng ta còn có các nguồn thu quan trọng từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dịch vụ và các dòng vốn khác. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để theo dõi sát diễn biến xuất nhập khẩu, kịp thời báo cáo và tham mưu Chính phủ các giải pháp điều hành phù hợp.

Về phía Bộ Công Thương, trong thời gian tới sẽ tập trung triển khai một số nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu trong những tháng cuối năm, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Vừa qua, Bộ Công Thương đã chủ trì kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA). Nếu hiệp định này được ký kết, đây sẽ là FTA thứ 18 của Việt Nam và sẽ tạo thêm dư địa thuận lợi để thúc đẩy xuất khẩu trong thời gian tới.

Thứ hai, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại và tháo gỡ khó khăn về thị trường. Sáng nay, Bộ Công Thương cũng đã tổ chức hội nghị với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, trong đó nhấn mạnh vai trò của các Thương vụ trong việc hỗ trợ kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối và các đầu mối tiêu thụ tại thị trường nước ngoài.

Thứ ba, Bộ Công Thương sẽ tăng cường kiểm soát gian lận thương mại, gian lận xuất xứ hàng hóa; đẩy mạnh kiểm tra, xác minh xuất xứ, đặc biệt đối với những nhóm hàng có kim ngạch lớn nhằm bảo đảm hoạt động xuất khẩu diễn ra minh bạch, đúng quy định.

Đồng thời, Bộ cũng sẽ theo dõi sát diễn biến nhập khẩu đối với các nhóm hàng thuộc phạm vi quản lý, đặc biệt là nhóm năng lượng và nguyên liệu đầu vào, để có biện pháp điều hành phù hợp, tránh tình trạng nhập khẩu tập trung vào những thời điểm giá thế giới tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả nhập khẩu và cân đối thương mại.

Câu hỏi 2: Hoa Kỳ đang gia tăng các cuộc điều tra thương mại, trong đó có điều tra theo Mục 301 đối với nhiều đối tác, bao gồm Việt Nam. Bộ Công Thương đánh giá như thế nào về nguy cơ các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phải đối mặt với các vụ điều tra phòng vệ thương mại và chống gian lận xuất xứ trong thời gian tới? Bộ sẽ có giải pháp gì để hỗ trợ doanh nghiệp?

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại trả lời:

Thời gian qua, nhiều nền kinh tế tiếp tục sử dụng các công cụ điều tra phòng vệ thương mại, điều tra theo Mục 301, Mục 232 và nhiều biện pháp khác nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế cũng như ngành sản xuất trong nước. Mặc dù điều tra theo Mục 301 và điều tra phòng vệ thương mại là những công cụ pháp lý khác nhau, song đều phản ánh xu hướng môi trường thương mại quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu chặt chẽ hơn và tiêu chuẩn tuân thủ cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu.

Cục Phòng vệ thương mại đánh giá nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với các vụ điều tra phòng vệ thương mại trong thời gian tới vẫn ở mức cao. Đây là xu hướng đã diễn ra trong nhiều năm qua và nhiều khả năng sẽ tiếp tục khi quy mô xuất khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng.

Nguyên nhân xuất phát từ hai yếu tố chính. Thứ nhất là sự thay đổi trong chính sách thương mại của nhiều nền kinh tế lớn. Thứ hai là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam ở mức tích cực, kéo theo nguy cơ phát sinh các vụ việc phòng vệ thương mại. Đây là quy luật phổ biến trong thương mại quốc tế, không chỉ đối với Việt Nam mà đối với tất cả các nền kinh tế có độ mở lớn và năng lực xuất khẩu cao.

Bên cạnh đó, xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu cũng khiến các thị trường nhập khẩu ngày càng quan tâm đến các yếu tố như xuất xứ hàng hóa, nguồn gốc nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại nước xuất khẩu cũng như các yêu cầu về minh bạch trong chuỗi cung ứng. Đây đều là những yếu tố có thể làm gia tăng rủi ro phát sinh các vụ điều tra trong thời gian tới.

Để hỗ trợ doanh nghiệp, Cục Phòng vệ thương mại sẽ tiếp tục triển khai một số giải pháp trọng tâm.

Trước hết, tiếp tục nâng cao hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại. Trên cơ sở theo dõi diễn biến xuất khẩu theo từng mặt hàng và thị trường, Cục sẽ kịp thời cung cấp thông tin cảnh báo để doanh nghiệp chủ động chuẩn bị trước khi các vụ việc phát sinh.

Thứ hai, tăng cường công tác tập huấn, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong quá trình ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại. Nội dung tập huấn không chỉ tập trung vào kỹ năng xử lý vụ việc mà còn bao gồm năng lực quản trị dữ liệu, quản trị chi phí và hiểu biết về các quy định pháp lý liên quan đến điều tra phòng vệ thương mại.

Thứ ba, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng và địa phương để hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định về xuất xứ hàng hóa, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và việc sử dụng nguyên liệu nhập khẩu. Đồng thời, tăng cường kiểm soát các hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp hoặc lợi dụng Việt Nam làm địa điểm trung chuyển nhằm né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại của nước ngoài.

Thứ tư, Cục sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình xử lý các vụ việc, từ việc phổ biến quy định pháp luật, hướng dẫn trả lời bản câu hỏi điều tra, phối hợp chuẩn bị hồ sơ, hỗ trợ tham gia quá trình thẩm tra của cơ quan điều tra nước ngoài cho đến trao đổi trực tiếp với các cơ quan điều tra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời bảo đảm các cuộc điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật quốc tế và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia.

Chúng tôi cũng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, xây dựng hệ thống tuân thủ nội bộ và chủ động phối hợp với cơ quan quản lý trong quá trình xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả ứng phó với các cuộc điều tra từ nước ngoài.

Câu hỏi 3: Liên quan đến dự thảo quy định quản lý ô tô nhập khẩu theo diện quà biếu, quà tặng, sau gần bốn năm nghiên cứu, Bộ Công Thương đã đưa ra dự thảo với một số quy định mới, trong đó yêu cầu việc nhập khẩu phải thông qua doanh nghiệp đáp ứng điều kiện theo Nghị định 116. Bộ đã lấy ý kiến đầy đủ các đối tượng chịu tác động hay chưa? Quy định này có làm thu hẹp quyền nhận quà biếu, quà tặng của người dân hoặc tạo lợi thế cho một số doanh nghiệp được cấp phép hay không?

Bên cạnh đó, mục tiêu của dự thảo là ngăn chặn thất thu thuế. Tuy nhiên, theo thực tế, nguy cơ thất thu chủ yếu nằm ở khâu chuyển nhượng sau nhập khẩu. Xin Bộ cho biết dự thảo sẽ có giải pháp gì để xử lý vấn đề này?

Ngoài ra, hiện còn khoảng 50 xe nhập khẩu theo diện quà biếu, quà tặng bị tồn đọng từ năm 2022. Bộ có cơ chế chuyển tiếp nào để tránh phát sinh thiệt hại và tranh chấp cho doanh nghiệp hay không?

Ông Trần Thanh Hải - Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời:

Về câu hỏi thứ hai, liên quan đến dự thảo quy định về quản lý ô tô nhập khẩu theo diện quà biếu, quà tặng và tài sản di chuyển, xin được trao đổi với phóng viên như sau.

Trước đây, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 143/2015/TT-BTC quy định việc quản lý đối với ô tô nhập khẩu theo hình thức phi thương mại. Đến năm 2022, Chính phủ giao Bộ Công Thương nghiên cứu, xây dựng quy định mới thay thế nhằm phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu quản lý hiện nay.

Hiện nay, dự thảo Quyết định vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và Bộ Công Thương đã báo cáo Chính phủ theo quy định.

Trong quá trình xây dựng dự thảo, Bộ Công Thương bám sát một số quan điểm lớn.

Thứ nhất, các quy định phải bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước đối với ô tô, đặc biệt là Nghị định số 116/2017/NĐ-CP quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô.

Thứ hai, dự thảo cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để bảo đảm công tác quản lý nhà nước, đồng thời ngăn chặn tình trạng lợi dụng hình thức nhập khẩu phi thương mại để thực hiện hoạt động nhập khẩu mang tính chất thương mại, gây khó khăn cho công tác quản lý.

Thứ ba, việc xây dựng quy định cũng hướng tới hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành chính sách đối với hoạt động nhập khẩu ô tô theo diện quà biếu, quà tặng và tài sản di chuyển.

Trong quá trình xây dựng dự thảo, Bộ Công Thương đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, cơ quan liên quan. Đồng thời, toàn văn dự thảo cũng đã được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Công Thương và Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ từ năm 2025 để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nghiên cứu và tham gia góp ý.

Liên quan đến ý kiến về việc quản lý sau nhập khẩu, đặc biệt là kiểm soát hoạt động đăng ký, sang tên, chuyển nhượng phương tiện, trong quá trình xây dựng dự thảo, Bộ Công Thương cũng đã nhận được nhiều ý kiến từ các bộ, ngành.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nếu tiếp tục bổ sung các biện pháp quản lý đối với phương tiện sau khi đã hoàn thành đầy đủ thủ tục nhập khẩu và được phép lưu hành thì sẽ phát sinh một số vấn đề.

Thứ nhất, các biện pháp này có thể ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản và quyền tự do chuyển nhượng của công dân. Khi chiếc xe đã được nhập khẩu hợp pháp, đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì phương tiện đó trở thành tài sản hợp pháp của người dân. Nếu tiếp tục áp dụng thêm các biện pháp quản lý đối với việc chuyển nhượng thì có thể ảnh hưởng đến quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu.

Thứ hai, việc bổ sung các biện pháp quản lý sau nhập khẩu cũng sẽ làm phát sinh thêm nhiệm vụ đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Việc theo dõi, giám sát hoạt động sang tên, chuyển nhượng phương tiện sẽ phải thực hiện trong thời gian dài, đòi hỏi thêm nguồn lực về nhân sự, kinh phí để tổ chức thực hiện.

Vì vậy, trên cơ sở trao đổi với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công an, quan điểm hiện nay là tập trung tăng cường quản lý ngay từ khâu nhập khẩu, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, điều kiện nhập khẩu và các tiêu chí liên quan, thay vì mở rộng các biện pháp quản lý sau khi phương tiện đã được đưa vào lưu hành.

Đối với các ý kiến góp ý khác, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp, tiếp thu đầy đủ trong quá trình hoàn thiện dự thảo trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Phóng viên Nguyễn Tuyền (Báo Dân Việt):

Câu hỏi: Thời gian qua, nhiều người dân phản ánh hóa đơn tiền điện tháng 6 tăng cao. Bộ Công Thương có ghi nhận phản ánh nào về những bất thường trong hóa đơn tiền điện hay không? Theo Bộ, nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết nắng nóng hay do mức tiêu thụ điện của các hộ gia đình tăng lên? Bộ có khuyến cáo gì đối với người dân để sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả trong thời gian tới?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Đúng là như phóng viên đã nêu, thực chất sản lượng điện, đặc biệt là điện sinh hoạt, trong những ngày nắng nóng thường tăng cao vì nhu cầu sử dụng điện tăng.

Đồng thời, như tôi vừa nói, nhóm khách hàng sử dụng điện sinh hoạt hiện nay thực hiện theo biểu giá điện bậc thang. Tức là sử dụng ở bậc một thì giá thấp, bậc hai cao hơn một chút, bậc ba tiếp tục tăng và đặc biệt các bậc cuối thì giá rất cao.

Vì vậy, khi lượng điện sử dụng tăng lên và chuyển sang các bậc bốn, bậc năm thì chi phí sẽ tăng rất cao. Đặc biệt trong thời tiết nắng nóng, người dân sử dụng nhiều các thiết bị làm mát, hệ thống điều hòa nhiệt độ, nên sản lượng điện tăng mạnh và rơi vào các bậc thang cao, dẫn đến tiền điện tăng cao. Đây là điều cũng khó tránh khỏi.

Còn về khuyến khích thì chúng ta chỉ cố gắng hạn chế sử dụng điện vào những khung thời gian có giá cao, những bậc thang giá cao. Nếu hạn chế được thì sẽ giảm chi phí tiền điện. 

Phóng viên Kim Oanh (Báo Xây dựng):

Câu hỏi: Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ trà lớn nhất thế giới trong khi Việt Nam có lợi thế địa lý và là một trong những nước sản xuất chè lớn nhưng giá trị xuất khẩu sang thị trường này vẫn chưa tương xứng. Bộ Công Thương đánh giá như thế nào về vị thế của chè Việt Nam tại Trung Quốc hiện nay? Bộ có thể chia sẻ một số số liệu về kim ngạch, thị phần, tốc độ tăng trưởng cũng như những "điểm nghẽn" lớn nhất đang khiến chè Việt chưa tận dụng được hết dư địa của thị trường hơn 1,4 tỷ dân?

Ông Trần Thanh Hải - Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời: Về câu hỏi thứ ba, liên quan đến xuất khẩu chè sang thị trường Trung Quốc, xin được trao đổi như sau.

Về câu hỏi thứ ba, liên quan đến xuất khẩu chè sang thị trường Trung Quốc, xin được trao đổi như sau.

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè. Năm 2025, xuất khẩu chè của Việt Nam đạt khoảng 136.000 tấn, với kim ngạch khoảng 238 triệu USD.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chè đạt khoảng 51.000 tấn, kim ngạch khoảng 89 triệu USD, giảm khoảng 11% về lượng và và 7,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Các thị trường xuất khẩu chè chủ lực của Việt Nam hiện nay gồm Pakistan, Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ.

Đối với thị trường Trung Quốc, có thể khẳng định đây là một thị trường có quy mô tiêu thụ rất lớn, đồng thời có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về văn hóa thưởng trà, thói quen tiêu dùng cũng như có lợi thế rất lớn về vị trí địa lý. Vì vậy, đây là thị trường có nhiều tiềm năng đối với chè Việt Nam.

Hiện nay, thị phần chè của Việt Nam tại thị trường Trung Quốc đạt khoảng 12%. Điều này cho thấy chè Việt Nam đã có sự hiện diện nhất định tại thị trường này. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm xuất khẩu vẫn là chè nguyên liệu hoặc các sản phẩm sơ chế, giá trị gia tăng chưa cao. Đặc biệt, chúng ta vẫn chưa xây dựng được thương hiệu đủ mạnh để cạnh tranh với các sản phẩm chè của những quốc gia khác cũng như với chính các thương hiệu chè của Trung Quốc.

Trong bối cảnh Trung Quốc đang chuyển từ xu hướng nhập khẩu số lượng lớn sang ưu tiên các sản phẩm có thương hiệu, có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng và có giá trị gia tăng cao, chúng tôi cho rằng đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội rất lớn đối với ngành chè Việt Nam.

Đây cũng có thể coi là cú hích để ngành chè thay đổi mạnh mẽ hơn trong tư duy sản xuất và xuất khẩu.

Đối với doanh nghiệp, trước hết cần tập trung nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng. Đây là ba yêu cầu rất quan trọng nếu muốn mở rộng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.

Có thể nói, yêu cầu của thị trường Trung Quốc hiện nay đã cao hơn rất nhiều so với trước đây. Trung Quốc không còn là thị trường "dễ tính" như nhiều người vẫn nghĩ mà đang đặt ra những tiêu chuẩn rất khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu.

Nếu doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu của thị trường Trung Quốc thì cũng sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường khác.

Bên cạnh chất lượng sản phẩm, việc xây dựng thương hiệu cũng là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp trong ngành chè hiện nay vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức.

Trong phạm vi chức năng của mình, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc cung cấp thông tin thị trường, cảnh báo sớm những thay đổi về chính sách nhập khẩu của Trung Quốc; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm và các chương trình xúc tiến thương mại tại thị trường này.

Bộ cũng sẽ tăng cường kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các hệ thống phân phối, các nhà nhập khẩu, chuỗi siêu thị và các sàn thương mại điện tử của Trung Quốc, qua đó tạo điều kiện để chè Việt Nam tiếp cận sâu hơn với người tiêu dùng, nâng cao giá trị và từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường này.

Phóng viên Hoàng Hưng (Báo Thanh tra):

Câu hỏi 1: Ngày 23/5/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã ký ban hành Chỉ thị số 05/CT-BCT về việc tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sau hơn 4 tháng triển khai, xin Bộ Công Thương cho biết việc thực hiện Chỉ thị đã đạt được những kết quả cụ thể nào? Có bao nhiêu dự án đã được tháo gỡ vướng mắc, đưa vào vận hành hoặc tái khởi động? Những dự án nào vẫn còn gặp khó khăn? Trong thời gian tới, Bộ sẽ tập trung triển khai những giải pháp gì để các dự án sớm phát huy hiệu quả, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026?

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân trả lời: 

Đối với lĩnh vực điện lực, thực hiện các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều nhiệm vụ theo yêu cầu. Bộ trưởng cũng đã chỉ đạo rất rõ trách nhiệm của từng đơn vị trong Bộ và đến nay, về cơ bản các nhiệm vụ đã được hoàn thành.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục trình một nghị định hướng dẫn thực hiện nghị quyết của Quốc hội về tháo gỡ khó khăn cho các dự án, công trình trong lĩnh vực năng lượng. Theo thông tin tôi vừa nhận được từ Cục Điện lực, nghị định này đã được ban hành.

Câu hỏi 2: Sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, Bộ Công Thương đã xây dựng phương án xử lý như thế nào đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư thuộc phạm vi quản lý của Bộ và các đơn vị trực thuộc? Đối với những cơ sở chậm được xử lý, có dấu hiệu xuống cấp hoặc chưa khai thác hiệu quả, trách nhiệm sẽ được xác định ra sao? Bộ có giải pháp gì để tránh lãng phí tài sản công?

Ông Nguyễn Thành Nam - Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương

Ông Nguyễn Thành Nam - Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương trả lời:

Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, thời gian qua Văn phòng Bộ đã phối hợp rà soát tổng thể cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.

Việc rà soát được thực hiện trên cơ sở Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, các nghị định hướng dẫn như Nghị định số 03/2025/NĐ-CP, Nghị định số 151/2017/NĐ-CP, Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và phương án sắp xếp, kiện toàn tổ chức của Bộ Công Thương.

Bộ Công Thương quán triệt quan điểm quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công tránh lãng phí nguồn lực, thực hiện công tác tổ chức sắp xếp, bố trí sử dụng cơ sở vật chất theo hướng hiệu quả nhất, phù hợp với cơ cấu tổ chức sau khi sắp xếp bộ máy.

Đối với những cơ sở nhà đất và hạ tầng không còn nhu cầu sử dụng, Bộ Công Thương đã có văn bản báo cáo, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét bàn giao lại cho cơ quan chủ quản hoặc UBND các địa phương để tiếp tục quản lý, khai thác theo quy định.

Đối với các cơ sở còn nhu cầu sử dụng, Bộ Công Thương tiếp tục rà soát, cải tạo, bố trí và khai thác hiệu quả, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tài sản công, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy.

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm:

Việc sắp xếp tổ chức của Bộ Công Thương có quá trình lịch sử khá dài. Từ khi Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp hợp nhất thành Bộ Công Thương, công tác sắp xếp, bố trí cơ sở vật chất đã được thực hiện liên tục. Đến nay, qua rà soát, số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư không còn nhiều.

Quan điểm của Bộ rất rõ: những cơ sở không còn nhu cầu sử dụng sẽ được thực hiện đầy đủ các thủ tục để bàn giao lại theo đúng quy định, tránh lãng phí tài sản công. Đây cũng là mục tiêu xuyên suốt nhằm thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công.

Phóng viên Ngọc Tú (Báo Nhà báo và Công luận):

Câu hỏi: Hiện nay, giá xăng E10 niêm yết theo công bố của liên Bộ Công Thương - Tài chính có sự khác biệt so với giá bán thực tế tại nhiều cửa hàng xăng dầu.

Theo phản ánh của các doanh nghiệp, xăng E10 hiện được phân phối theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau như Euro 3 và Euro 5, với mức giá chênh lệch đáng kể. Tuy nhiên, khi công bố giá cơ sở, Bộ Công Thương chỉ công bố một mức giá mà không phân tách theo từng tiêu chuẩn chất lượng.

Xin Bộ Công Thương cho biết vì sao chưa công bố riêng giá cơ sở đối với từng loại xăng E10 theo các tiêu chuẩn khác nhau?

Qua khảo sát thực tế tại nhiều cửa hàng xăng dầu trên địa bàn Hà Nội, hầu hết chỉ bán xăng E10 đạt tiêu chuẩn Euro 5, trong khi gần như không có xăng E10 Euro 3. Việc này có tạo ra nguy cơ thiếu cạnh tranh hoặc gây bất lợi cho người tiêu dùng hay không?

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người mua có quyền được cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa. Vậy việc các cửa hàng xăng dầu không công khai rõ loại xăng E10 đang bán có phù hợp với quy định hiện hành hay không? Bộ Công Thương sẽ có giải pháp gì để bảo đảm quyền được biết và quyền lựa chọn của người tiêu dùng?

Bà Nguyễn Thúy Hiền, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Hiện nay trên thị trường vẫn lưu thông nhiều chủng loại xăng sinh học khác nhau. tuy nhiên phổ biến vẫn là xăng E5 RON92, E10 RON95III. Theo quy định hiện hành về kinh doanh xăng dầu, Bộ Công Thương thực hiện điều hành giá đối với các mặt hàng tiêu dùng phổ biến trên thị trường. Thực hiện Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP của Chính phủ về ban hành thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình xăng sinh học E10 đã lựa chọn mặt hàng E10RON 95-III để thực hiện điều hành giá cùng với mặt hàng E5RON92. Đối với các mặt hàng khác như E10RON95 V (chỉ có Petrolimex bán) doanh nghiệp tự công bố giá, kê khai giá với cơ quan quản lý nhà nước.

Thị phần xăng E10RON95 III hiện chiếm khoảng 94-95% sản lượng tiêu thụ của các mặt hàng xăng, các mặt khác chiếm tỷ trọng nhỏ.  Đối với những mặt hàng xăng có sản lượng tiêu thụ thấp, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sẽ căn cứ vào nhu cầu thực tế của thị trường để bố trí bán tại từng cửa hàng. 

Phóng viên Thanh Hương - Báo Tài chính - Đầu tư:

Câu hỏi 1: Liên quan đến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực do Bộ Công Thương chủ trì xây dựng. Xin Bộ Công Thương cho biết việc sửa đổi Luật Điện lực lần này sẽ tác động đến bao nhiêu nghị định và thông tư hiện hành?

Luật Điện lực mới được ban hành trong năm 2025 và sau đó đã có khá nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Nếu tiếp tục sửa luật thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành?

Ông Bùi Quốc Hùng – Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Theo quy định hiện hành, khi xây dựng và trình dự án luật thì đồng thời phải trình kèm các dự thảo nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành.

Hiện nay, song song với quá trình hoàn thiện hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực để lấy ý kiến các bộ, ngành, tổ chức, cá nhân và trình Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Công Thương, trực tiếp là Cục Điện lực, cũng đang xây dựng các dự thảo nghị định hướng dẫn.

Sau khi xác định được nội dung của các nghị định thì mới có cơ sở xác định số lượng thông tư cần ban hành.

Quan điểm của Bộ Công Thương là xây dựng luật theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng ngay trong luật để hạn chế tối đa việc phải ban hành nhiều nghị định và thông tư hướng dẫn.

Hiện nay, chúng tôi đang rà soát để xác định số lượng nghị định cần xây dựng kèm theo dự thảo luật. Đến thời điểm này chưa có con số chính thức. Việc xây dựng các văn bản dưới luật sẽ phụ thuộc vào mức độ quy định chi tiết trong Luật Điện lực sửa đổi.

Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm:

Thực ra số lượng nghị định, thông tư không khó để thống kê. Luật Điện lực hiện hành có bao nhiêu nghị định, bao nhiêu thông tư hướng dẫn thì khi sửa luật chắc chắn sẽ rà soát trong phạm vi các văn bản đó.

Hiện nay, Bộ Công Thương đang đồng thời thực hiện hai công việc: hoàn thiện chính sách và xây dựng dự thảo luật. Trong quá trình này, một số nội dung được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn, do đó các nghị định và thông tư tương ứng cũng sẽ phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Theo quy định hiện hành, khi trình dự án luật thì đồng thời cũng phải trình dự thảo nghị định và dự thảo thông tư hướng dẫn. Vì vậy, Bộ Công Thương đang tiến hành rà soát toàn bộ hệ thống văn bản để xác định những nội dung cần điều chỉnh và hoàn thiện đồng bộ cùng với dự thảo Luật Điện lực sửa đổi.

Câu hỏi 2: Xin Bộ Công Thương cho biết hiện nay sản phẩm xăng dầu của hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn đang đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nào?

Ông Trịnh Đức Duy - Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than

Ông Trịnh Đức Duy - Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than trả lời:

- Đối với NMLD Dung Quất: NMLD Dung Quất được thiết kế với chất lượng sản phẩm xăng dầu đạt Mức 2 theo QCVN 01:2022/BKHCN. Thời gian qua, Tổng công ty Lọc hoá dầu Việt Nam - Công ty cổ phần (BSR) đã nỗ lực nghiên cứu, tối ưu công nghệ, cải thiện phối trộn nguyên liệu đầu vào của NMLD Dung Quất. Về cơ bản các sản phẩm xăng của NMLD Dung Quất sản xuất hiện nay đạt Mức 3 và tiệm cận Mức 4; một số chỉ tiêu đạt Mức 5.

- Đối với NMLD Nghi Sơn: NMLD Nghi Sơn có khả năng sản xuất sản phẩm xăng dầu đạt tiêu chuẩn Mức 4 và một phần dầu điêzen đáp ứng tiêu chuẩn Mức 5. Tuy nhiên, thị trường Việt Nam đang lưu thông song song các dòng xăng dầu Mức 2, Mức 3 và Mức 4, nên Công ty TNHH Lọc hoá dầu Nghi Sơn (NSRP) chủ yếu vẫn sản xuất nhiên liệu theo nhu cầu thị trường để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phục vụ nhu cầu thực tế trong nước.

Hiện nay, BSR và NSRP đã có lộ trình nâng cấp chất lượng sản phẩm xăng dầu của NMLD Dung Quất và Nghi Sơn; theo đó, dự kiến sản phẩm xăng dầu của NMLD Dung Quất và NMLD Nghi Sơn đạt tiêu chuẩn Mức 5 dự kiến trước năm 2030./.


Tác giả: Nhóm phóng viên Báo Công Thương

Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website