A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để mở rộng xuất khẩu, ‘chinh phục’ thị trường RCEP ?

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mở ra không gian thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để biến các ưu đãi của RCEP thành lợi thế thực tế, doanh nghiệp phải nâng cao năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật…

Cơ hội mở rộng chuỗi cung ứng

Đối với Việt Nam, Hiệp định RCEP đã và đang góp phần củng cố các cái chuỗi cung ứng trong khu vực, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và tạo điều kiện thuẩn hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Những cơ hội này đang được phản ánh qua quy mô thương mại ngày càng lớn. Tính đến năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước thành viên RCEP đạt gần 503 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tăng 30% so với thời điểm hiệp định có hiệu lực vào năm 2022.

Không chỉ tạo thêm dư địa cho xuất khẩu, RCEP còn góp phần củng cố các chuỗi cung ứng trong khu vực và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là một điểm có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào mạng lưới sản xuất của khu vực, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nền kinh tế thành viên RCEP là những trung tâm sản xuất và thương mại lớn.

Hiệp định RCEP còn nhiều dư địa để doanh nghiệp Việt Nam khai thác, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa

Ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Pháp, EU và Vương quốc Anh nhấn mạnh: RCEP là hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới với 15 nước thành viên, tập trung nhiều trung tâm sản xuất và mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị toàn cầu. Khi tham gia RCEP, Việt Nam được hưởng lợi rất lớn không chỉ từ việc cắt giảm thuế quan mà còn từ quy tắc cộng gộp xuất xứ. Chẳng hạn, khi Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thành viên RCEP để sản xuất rồi xuất khẩu ngược lại, nguồn nguyên liệu đó sẽ được coi như nguyên liệu của Việt Nam. Chính quy tắc cộng gộp xuất xứ tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tổ chức lại nguồn nguyên liệu, sản xuất và xuất khẩu trong phạm vi khu vực.

Ở góc nhìn pháp lý, Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SB LAW cũng cho rằng, Hiệp định RCEP mang lại tiềm năng và cơ hội to lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, cơ hội trước hết nằm ở khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu. “Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế mở rộng thị trường xuất khẩu sang những thị trường lớn có sức tiêu thụ và trình độ phát triển cao. Thứ hai, hàng hóa Việt Nam được tiếp cận thị trường với mức thuế suất thấp, từ đó nâng cao sức cạnh tranh”, Luật sư Hà nhấn mạnh.

Cùng với đó, việc tham gia RCEP cũng đặt doanh nghiệp trước yêu cầu nâng cao chuẩn đầu ra của hàng hóa. Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, việc tham gia hiệp định đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao chuẩn đầu ra của hàng hóa thông qua chứng minh nguồn gốc xuất xứ và đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ, giúp nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh tổng thể, ngoài ra, nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ quy tắc xuất xứ chung giữa các quốc gia thành viên, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa Việt Nam tiến vào các thị trường phát triển.

Ở góc độ doanh nghiệp, những lợi ích này được nhìn nhận từ chính hoạt động sản xuất, nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm. Theo ông Đỗ Huy Phương - Tổng giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Sapon (Sapon Group) nhấn mạnh, Hiệp định RCEP tạo cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất như Sapon, vì khi nhập khẩu nguồn nguyên liệu trong khối hiệp định, doanh nghiệp nhận được nhiều ưu đãi về thuế. Đồng thời, doanh nghiệp lại có cơ hội tiếp cận các thị trường đó để xuất khẩu sản phẩm ra ngoài. Hiện tại, về nguồn nguyên liệu nhập khẩu trong khối RCEP, Sapon nhập thân trúc và thân giấy từ Trung Quốc, nhập bông từ Indonesia. Về xuất khẩu, Sapon đã đưa được hàng hóa vào thị trường Úc và New Zealand thông qua hệ thống của Daiso (Nhật Bản).

Đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp

Tuy nhiên, mức độ tận dụng các ưu đãi của hiệp định vẫn được ghi nhận còn khiêm tốn. Khó khăn này thể hiện rõ hơn ở nhóm doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận thông tin, hiểu và áp dụng các quy tắc xuất xứ, cũng như tận dụng các ưu đãi thuế quan. Trong khi đó, RCEP không chỉ đặt ra câu chuyện về thuế. Doanh nghiệp còn phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật khi áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của thị trường và tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng khu vực. Sự thay đổi mạnh mẽ của thương mại quốc tế dưới tác động của chuyển đổi số cũng tạo thêm áp lực, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao năng lực số.

Giống như hầu hết các FTA khác, theo ông Nguyễn Cảnh Cường, ở giai đoạn đầu thực hiện, doanh nghiệp Việt Nam luôn gặp khó khăn vì đi kèm với hiệp định là các tiêu chuẩn quốc tế mới cao hơn tiêu chuẩn nội địa. Mặc dù vậy, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam đang được nâng cao rất rõ rệt và thời gian để vượt qua các yêu cầu mới ngày càng được rút ngắn nhờ ứng dụng công nghệ, phương pháp quản lý mới, cùng sự học hỏi từ đối tác nước ngoài và lực lượng nhân sự trình độ cao.

Doanh nghiệp cần tăng cường tìm hiểu các tiêu chuẩn, quy định nhằm khai thác hiệu quả Hiệp định RCEP

Đáng chú ý, theo ông Nguyễn Cảnh Cường, chính trong khó khăn đó lại mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam. So với các nước đang phát triển khác, Việt Nam là một trong số ít quốc gia tiên phong về năng lực cạnh tranh, khả năng học hỏi và mức độ đáp ứng các cam kết FTA mới. Nhờ khả năng thích ứng nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh vốn mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng tiêu chuẩn, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để vươn lên và giành chiến thắng trên các thị trường xuất khẩu.

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, mặc dù Chính phủ và các Bộ, ngành đã rất nỗ lực đàm phán để Việt Nam hưởng lợi từ FTA, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn pháp lý. “Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ với hiểu biết về ưu đãi và yêu cầu của hiệp định còn rất hạn chế, đồng thời chúng ta thiếu đội ngũ chuyên gia kinh tế - pháp lý tư vấn để hỗ trợ doanh nghiệp khai thác lợi thế”, Luật sư Nguyễn Thanh Hà cho biết.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà cho rằng, ngoài các quy định chung của hiệp định, mỗi quốc gia lại có tiêu chuẩn kỹ thuật riêng đối với các hàng hóa đặc thù như thực phẩm hay sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đòi hỏi phải có đội ngũ am hiểu pháp luật bản địa. Một thách thức khác là nguy cơ gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ. Khi hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ, xu hướng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp hay lẩn tránh phòng vệ thương mại của các nước sẽ gia tăng, nếu doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường quá nhanh mà không chú ý phòng ngừa thì dễ bị điều tra, dẫn đến vô hiệu hóa ưu đãi thuế quan.

Bên cạnh đó, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ và chống hàng giả, hàng nhái cũng là thách thức pháp lý rất lớn mà các nước thành viên kiểm soát nghiêm ngặt. Những yêu cầu này cho thấy, câu chuyện tận dụng RCEP không thể chỉ được đo bằng việc doanh nghiệp có được hưởng mức thuế ưu đãi hay không. Để thực sự tận dụng được ưu đãi, doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng hàng loạt điều kiện liên quan đến xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật của thị trường nhập khẩu.

Do đó, theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, doanh nghiệp ngoài việc quan tâm đến thuế suất ưu đãi hay thuế nhập khẩu bằng không, cần đặc biệt chú ý tuân thủ các quy định phi thuế quan của nước nhập khẩu về tiêu chuẩn môi trường, lao động và sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, để hưởng ưu đãi thuế quan, việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là yếu tố quyết định; đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hóa đầu vào, lưu giữ đầy đủ chứng từ hóa đơn và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chứng minh xuất xứ từ các quốc gia thành viên.

Từ thực tế trên, Luật sư Nguyễn Thanh Hà nhấn mạnh, vai trò của các hiệp hội ngành hàng là rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp nắm rõ nội dung hiệp định. Bên cạnh đó, các Bộ ngành, hệ thống cơ quan thương vụ ở nước ngoài cần tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, cung cấp thông tin và tư vấn thị trường cho doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Cảnh Cường cũng cho hay, thời gian qua, các Bộ ngành đã rất tích cực tuyên truyền về các nội dung cũng như lợi ích của Hiệp định RCEP. Dù vậy, thực tế là nhiều doanh nghiệp Việt Nam không có đủ nhân lực và nguồn lực để nghiên cứu cặn kẽ hiệp định, Vì vậy, phương pháp tuyên truyền phổ biến các lợi ích của hiệp định cần chuyển sang hướng dễ tiếp cận và dễ hiểu hơn. Cần có các hoạt động trực tiếp đi xuống từng doanh nghiệp, đến các khu công nghiệp tập trung nhiều nhà máy xuất khẩu để vừa tuyên truyền, hỗ trợ, vừa nhắc nhở doanh nghiệp tận dụng ưu đãi.

Đối với doanh nghiệp, ông Đỗ Huy Phương - Tổng giám đốc Công ty TNHH Sapon chia sẻ, doanh nghiệp cần có sự hướng dẫn chi tiết hơn. Hiện nay nguồn thông tin rất nhiều, nhưng cách thức tiếp cận thông tin và tiếp cận chính sách của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định. Bên cạnh sự chủ động của doanh nghiệp, nếu có sự hướng dẫn chi tiết và hỗ trợ từ Chính phủ, doanh nghiệp sẽ nắm bắt cơ hội tốt hơn, tận dụng được các ưu đãi về nguồn nguyên liệu cũng như thị trường trong khối RCEP một cách hiệu quả.

Hiệp định RCEP đã được ký kết vào ngày 15/11/2020 giữa 10 nước ASEAN và 5 nước đối tác là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand với quy mô khoảng 2,3 tỷ người tiêu dùng và chiếm gần 30% GDP toàn cầu. RCEP hiện là một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới và là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy liên kết kinh tế thương mại đầu tư trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Tác giả: Bảo Thoa

Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website