Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, Long An
Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, Long An
Câu số 1: Dự án của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) hiện nay đang lâm vào tình trạng khó khăn, mất cân đối tài chính nghiêm trọng, phần lớn do mắc kẹt tại dự án mở rộng giai đoạn 2 Gang thép Thái Nguyên, với chi phí đầu tư hơn 5.000 tỉ đồng được triển khai từ năm 2007 cho đến nay nhưng vẫn không hoạt động làm ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện sản xuất kinh doanh của công ty và tư tưởng người lao động. Đề nghị sớm làm rõ trách nhiệm và xử lý các tổ chức, cá nhân gây thua lỗ, thất thoát vốn đầu tư. Quá trình xử lý cần công khai cho người dân giám sát
Câu số 2: Dự án Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia, tỉnh Long An giai đoạn 2015-2020 theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến nay vẫn chưa thực hiện được. Do đó, để đảm bảo mục tiêu đến năm 2020 hầu hết các hộ dân nông thôn đều được cấp điện từ lưới điện quốc gia cho khu vực nông thôn, khu vực biên giới; đồng thời cấp điện cho các trạm bơm nông nghiệp đáp ứng nhu cầu, chủ động nguồn nước cho vùng trồng lúa; vùng nuôi tôm tập trung. Kiến nghị Bộ xem xét bố trí nguồn vốn 484,514 tỷ đồng (theo Quyết định số 11826/QĐ-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ Công Thương) để tỉnh triển khai thực hiện
Câu số 3: Hiện nay tỉnh Long An đã thu hút đầu tư được 16 dự án Nhà máy năng lượng mặt trời, tuy nhiên về thủ tục pháp lý và đất đai cho các dự án điện mặt trời cần nhiều thời gian để thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, trong khi đó việc triển khai xây lắp nhà máy và đường dây truyền tải điện để kịp phát lên lưới trước ngày 30/6/2019 còn rất ngắn. Cử tri doanh nghiệp kiến nghị giữ mức giá mua điện là 9,35 cent/kWh theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho các Dự án đã được duyệt trong Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia cũng như Quy hoạch điện lực tỉnh trước ngày 30/6/2019 đang tích cực triển khai nhưng có khả năng trễ hạn. Đồng thời đề nghị Bộ Công Thương nên khuyến khích phát triển điện mặt trời ở những khu vực có cường độ bức xạ cao và áp dụng chung giá mua điện mà không phân chia theo vùng, nếu phân chia khu vực thì không chênh lệch quá lớn. Bên cạnh đó, kiến nghị Bộ Công Thương có cơ chế khuyến khích đầu tư các dự án có công suất từ 10MWp trở xuống sẽ thuận lợi hơn cho việc đấu nối cũng như tiêu thụ lượng điện sản xuất ra.
Câu số 4: Theo quy định hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khí phải cùng lúc xây dựng 02 tài liệu có nội dung tương tự nhau được quy định tại 02 văn bản khác nhau là Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa ứng phó sự cố hóa chất (theo quy định tại Nghị định số 113/2017/NĐ-CP và Thông tư số 32/2017/TT-BCT) và các tài liệu quản lý an toàn trong hoạt động dầu khí (theo quy định tại Nghị định số 87/2018/NĐ-CP và Thông tư số 40/2018/TT-BCT). Kiến nghị Bộ Công Thương ban hành quy định bãi bỏ bớt 01 quy định về nội dung nêu trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khí
Câu số 5: Đề nghị Bộ Công Thương nghiên cứu bỏ phí tự vệ đối với phân DAP nhập khẩu.
Câu số 6: Đề nghị tăng cường quan tâm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam và có giải pháp bình ổn giá lương thực, thực phẩm.
Câu số 7: Kiến nghị Bộ Công Thương ban hành hướng dẫn quy định khoảng cách an toàn đối với các cơ sở hoạt động hóa chất để địa phương sớm triển khai, xem xét thiết lập khoảng cách an toàn khi tiếp nhận các dự án đầu tư về hoạt động hóa chất. Đồng thời, ban hành quy chuẩn về an toàn kho chứa hóa chất vì hiện nay loại hình kho chứa kinh doanh hóa chất đang tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp trong khi các quy định về an toàn kho chứa hóa chất còn chung chung, cơ quan gặp khó khăn trong quản lý.
Dự án mở rộng sản xuất dự án mở rộng giai đoạn 2 Gang thép Thái Nguyên gồm 02 hợp phần là Hạng mục Công trình khai thác và nhà máy tuyển rửa quặng sắt mỏ Tiến Bộ và Hạng mục Dây chuyền công nghệ luyện kim khu vực Lưu Xá. Dự án khởi công vào 29 tháng 9 năm 2007.
Hạng mục Công trình khai thác và nhà máy tuyển rửa quặng sắt mỏ Tiến Bộ đã chính thức bàn giao đưa vào sản xuất từ tháng 7 năm 2014, chậm tiến độ so với phê duyệt ban đầu là 11 tháng. Công trình hoạt động ổn định đạt 100% công suất thiết kế.
Đối với Hạng mục Dây chuyền công nghệ luyện kim khu vực Lưu Xá, do gặp khó khăn trong việc thu xếp nguồn vốn, nên phải kéo dài, dẫn đến tổng mức đầu tư tăng cao và dự án tạm dừng thi công từ năm 2012. Mặt khác, Hợp đồng EPC ký kết giữa Chủ đầu tư TISCO và Tổng thầu MCC của Trung Quốc đã phát sinh nhiều vướng mắc đến nay vẫn chưa giải quyết được.
Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Quyết định số 286/QĐ-TTCP ngày 16 tháng 2 năm 2017 về việc thanh tra toàn diện Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 nhà máy Gang thép Thái Nguyên và đã công bố quyết định vào ngày 24 tháng 2 năm 2017. Ngày 14 tháng 02 năm 2019, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Kết luận Thanh tra số 167/KL-TTCP. Trong đó đã nêu ra nhiều vi phạm, sai phạm của các cá nhân, tập thể trong quá trình triển khai Dự án và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an khẩn trương điều tra những vi phạm có dấu hiện hình sự.
Ngày 20 tháng 4 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C03) cho biết đang khẩn trương điều tra xác minh 4 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - TISCO. Căn cứ tài liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án này. Cơ quan điều tra đồng thời tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam 5 bị can: Mai Văn Tinh - cựu Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty thép Việt Nam; Đậu Văn Hùng - cựu Tổng Giám đốc Tổng công ty thép Việt Nam; Trần Trọng Mừng - cựu tổng giám đốc TISCO; Trần Văn Khâm - cựu Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc TISCO; Ngô Sỹ Hán - cựu Phó Tổng giám đốc, Trưởng ban Quản lý dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - TISCO. Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở, nơi làm việc của các bị can, thu giữ một số hồ sơ tài liệu quan trọng có liên quan đến vụ án. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang tập trung lực lượng, tiến hành phân loại, nghiên cứu các hồ sơ tài liệu thu giữ được để điều tra mở rộng vụ án và xác minh thu hồi tài sản bị thiệt hại.
Đối với những cá nhân, tập thể khác, hiện nay Bộ Công Thương đã thành lập Đoàn công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nội dung Kết luận Thanh tra số 167/KL-TTCP để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nội dung Kết luận của Thanh tra Chính phủ. Việc xử lý được tiến hành đầy đủ theo các quy định của pháp luật và sẽ được công khai kết quả để người dân giám sát.
Câu số 2:
Dự án Cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia, tỉnh Long An giai đoạn 2015-2020 (Dự án) giao Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 8 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020 (Chương trình).
Trên cơ sở đề xuất của Tỉnh và hồ sơ trình của EVN, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 11826/QĐ-BCT ngày 30 tháng 10 năm 2015 phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án với tổng mức đầu tư là 484,5 tỷ đồng, mục tiêu cấp điện cho khoảng 11.677 hộ dân nông thôn thuộc 264 thôn/ấp, 110 xã thuộc 13 huyện của tỉnh Long An, khối lượng gồm có: 768 trạm biến áp; 377,3 km đường dây trung áp; 688,7 km đường dây hạ áp. Cơ chế đầu tư: 85% tổng mức đầu tư cấp từ NSTW, 15% tổng mức đầu tư do Chủ đầu tư đối ứng.
Bộ Công Thương phối hợp các bộ ngành Trung ương tham mưu trình Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 tại Nghị Quyết số 73/NQ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2016; Quyết định số 1740/QĐ-TTg ngày 13 tháng 12 năm 2018 về phê duyệt Chương trình với tổng vốn đầu tư là 30.116 tỷ, kế hoạch trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 cho Chương trình là 5.580,0 tỷ đồng (Vốn đầu tư NSTW phân bổ: 2.218,0 tỷ đồng; Vốn ODA: 2.525,0 tỷ đồng; Vốn đối ứng: 837,0 tỷ đồng), chiếm tỷ lệ 18,5% để thực hiện mục tiêu của Chương trình, cơ bản để thực hiện cấp điện cho 3 đảo (Bạch Long Vỹ, Nhơn Châu, Đảo Trần), các thôn bản chưa có điện vùng sâu vùng xa biên giới và hải đảo đặc biệt khó khăn với khoảng 83.200 hộ dân chưa có điện.
Thực hiện Quyết định số 1740/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đang phối hợp với Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan đề vay vốn ODA (ADB, WB), trình Chính phủ, Quốc hội xem xét bổ sung cho Chương trình là 20.856 tỷ đồng để cấp phát theo Nghị quyết số 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28 tháng 08 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020, trong đó có tỉnh Long An khi vốn NSTW chưa cân đối được là 411 tỷ đồng.
Như vậy, kiến nghị của cử tri hiện nay chưa giải quyết được ngay do chưa có nguồn lực từ vốn vay ODA.
Câu số 3:
Quyết định 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2017 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019. Theo đó, các dự án điện mặt trời được xác nhận đưa vào vận hành thương mại trước ngày 01 tháng 7 năm 2019 sẽ được hưởng giá bán điện là 9,35 UScent/kWh. Hiện nay, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời sau tháng 6 năm 2019, do đó, đối với các dự án vào vận hành thương mại sau tháng 6 năm 2019 sẽ áp dụng giá bán điện theo quyết định mới do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Biểu giá điện mặt trời tại Dự thảo Quyết định thay thế Quyết định 11/2017/QĐ-TTg đã được tư vấn nghiên cứu, tính toán và đề xuất cho các dạng công nghệ điện mặt trời khác nhau (bao gồm cả mặt trời nổi) trên cơ sở xem xét các yếu tố đầu vào về: cường độ bức xạ, công nghệ, giá thiết bị, chi phí vận hành, điều kiện tài chính,… nhằm đảm bảo tỷ suất thu hồi vốn của nhà đầu tư. Do một số yếu tố như cường độ bức xạ, khả năng giải tỏa công suất của hệ thống lưới điện... là khác nhau giữa các địa phương nên kiến nghị áp dụng chung giá FIT không phân vùng là chưa hợp lý. Việc đấu nối các dự án điện mặt trời phụ thuộc vào hiện trạng hệ thống điện tại địa phương đặt nhà máy.
Đối với kiến nghị của cử tri về khó khăn triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình của một số chủ đầu tư, về việc này Bộ Công Thương đã có Văn bản số 68/BC-BCT ngày 21 tháng 6 năm 2019 kiến nghị Thủ tướng Chính phủ có ý kiến, chỉ đạo về các khó khăn, vướng mắc cho các dự án Điện mặt trời trong quá trình công nhận ngày vận hành thương mại. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương sẽ tổ chức thực hiện.
Câu số 4:
Tài liệu quản lý an toàn và Kế hoạch ứng phó sự cố hóa chất có phạm vi và mục tiêu khác nhau, được quy định bởi các quy định pháp luật khác nhau cho cùng một đối tượng quản lý. Việc xây dựng Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất là thực hiện theo quy định của Luật Hóa chất, Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ và Thông tư số 32/2017/TT-BCT ngày 28/12/2017 của Bộ Công Thương về hướng dẫn thi hành Luật Hóa chất. Các tài liệu an toàn trong hoạt động dầu khí được thực hiện theo quy định của Nghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày 15/6/2018 của Chính phủ về kinh doanh khí và Thông tư số 40/2018/TT-BCT ngày 30/10/2018 của Bộ Công Thương về xây dựng và nội dung các tài liệu quản lý an toàn trong hoạt động dầu khí.
Nội dung Kế hoạch, Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất là một tài liệu an toàn bao gồm nội dung chi tiết về thông tin của dự án; dự báo các nguy cơ, kế hoạch kiểm tra, giám sát các nguồn nguy cơ xảy ra sự cố; dự báo các tình huống sự cố có thể xảy ra và kế hoạch ứng phó các tình huống đó, bao gồm các biện pháp về quản lý, giải pháp kỹ thuật, quy trình ứng phó, phối hợp các lực lượng; đảm bảo nhân lực, vật lực trong công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố; kế hoạch sơ tán người và tài sản; kế hoạch huấn luyện, diễn tập ứng phó đối với các sự cố hóa chất điển hình; các phương án khắc phục hậu quả sau khi sự cố xảy ra.
Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp là một phần của các tài liệu quản lý an toàn trong hoạt động dầu khí bao gồm: Chương trình quản lý an toàn, Báo cáo đánh giá rủi ro, Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp. Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp bao gồm các hướng dẫn chi tiết trong tình huống khẩn cấp liên quan đến các tình huống nguy hiểm trong quá trình hoạt động như: cháy nổ, đổ sập công trình, thiên tai bão lụt, tai nạn nghề nghiệp... và được xây dựng dựa trên việc nhận diện các rủi ro trong quá trình hoạt động. Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp tập trung vào quy trình ứng cứu các tình huống khẩn cấp; huy động lực lượng phục vụ ứng cứu khẩn cấp và trách nhiệm của các lực lượng tham gia ứng cứu; huấn luyện diễn tập ứng phó các tình huống, khôi phục hoạt động của công trình.
Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp không thay thế được Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất. Ngoài ra, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) và khí thiên nhiên là những hóa chất nguy hiểm, đặc biệt dễ cháy, có thể nổ, gây bỏng, gây cay mắt hoặc mù mắt, có thể dẫn đến tử vong cần phải kiểm soát chặt chẽ về an toàn hóa chất để ngăn ngừa xảy ra sự cố, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cất giữ và sử dụng LPG và khí thiên nhiên vẫn phải xây dựng Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất để đảm bảo an toàn trong hoạt động hóa chất.
Bộ Công Thương sẽ rà soát và đề xuất chỉnh sửa các quy định pháp luật liên quan để tránh trùng lặp một số nội dung và phù hợp với thực tế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Câu số 5:
Căn cứ Luật Quản lý ngoại thương được Quốc hội ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2017 và Hiệp định Tự vệ của Tổ chức Thương mại Thế giới, một biện pháp tự vệ được phép áp dụng nếu có sự gia tăng đáng kể của hàng hóa nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng/đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước. Mục đích của biện pháp tự vệ là để ngành sản xuất trong nước có thời gian ổn định kế hoạch sản xuất, kinh doanh cũng như có các điều chỉnh phù hợp để cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu.
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp tự vệ của ngành sản xuất DAP và MAP trong nước, sau quá trình điều tra tuân thủ theo các quy định pháp luật liên quan, Bộ Công Thương đã kết luận có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ đối với phân bón DAP và MAP nhập khẩu. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá tổng thể tác động của biện pháp (nếu được áp dụng) đối với sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định số 686/QĐ-BCT ngày 2 tháng 3 năm 2018 về việc áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP nhập khẩu vào Việt Nam. Căn cứ Quyết định 686/QĐ-BCT, biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng cho đến ngày 6 tháng 3 năm 2020.
Việc bảo vệ ngành sản xuất DAP/MAP trong nước là cần thiết. Về lâu dài, nếu thị trường chỉ có hàng hoá nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt hại trực tiếp khi giá bán có thể tăng cao cũng như thiếu sự đa dạng về hàng hoá để lựa chọn. Thực tế đã cho thấy, kể từ khi có ngành sản xuất DAP trong nước, giá phân bón trên thị trường trong nước đã giảm đi rõ ràng, đặc biệt giá bán của hàng nhập khẩu (từ 18 triệu đồng/tấn năm 2008 xuống 7,7 triệu đồng/tấn năm 2016 và còn gần 9 triệu đồng/tấn năm 2018).
Kể từ khi áp dụng biện pháp tự vệ đối với phân bón DAP/MAP nhập khẩu, Bộ Công Thương luôn theo dõi chặt chẽ tình hình sản xuất kinh doanh cũng như sự điều chỉnh của ngành sản xuất trong nước. Nhìn chung, sau khi áp dụng biện pháp, tình hình sản xuất kinh doanh của ngành sản xuất trong nước có những chuyển biến tích cực: sản lượng sản xuất tăng, công suất thiết kế tăng, lượng bán hàng trong nước tăng, thị phần tăng, tồn kho giảm, doanh thu và lợi nhuận tăng. Biện pháp tự vệ đã mang lại hiệu quả tích cực cho ngành sản xuất trong nước.
Nhờ có biện pháp tự vệ, thị trường phân bón DAP/MAP không còn lệ thuộc hoàn toàn vào phân bón nhập khẩu. Thị phần phân bón nhập khẩu đã giảm từ 80% xuống còn khoảng hơn 50% tổng lượng tiêu thụ phân bón DAP của Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phân bón DAP và MAP cũng góp phần làm giảm nhập siêu, ổn định kinh tế vĩ mô. Ước tính sau khi áp dụng biện pháp, kim ngạch nhập khẩu phân bón DAP/MAP đã giảm 149 triệu USD trong năm 2018.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình sản xuất kinh doanh của ngành sản xuất trong nước và biến động của nhập khẩu để rà soát, kể cả xem xét việc chấm dứt áp dụng biện pháp tự vệ trên cơ sở tuân thủ các quy định trong Luật Quản lý ngoại thương và các văn bản pháp luật liên quan.
Câu số 6:
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, do đó giá cả hàng hóa nói chung và giá lương thực, thực phẩm nói riêng khi đưa ra thị trường để trao đổi mua bán sẽ bị chi phối bởi các quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Với vai trò quản lý chung, Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, theo đó, mọi tổ chức, cá nhân tự quyết định sản xuất cái gì, bằng cách nào và tiêu thụ ra sao theo tín hiệu của thị trường. Để đảm bảo lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, Nhà nước đã và đang có những chính sách và giải pháp bảo vệ người tiêu dùng và bình ổn thị trường, đặc biệt là mặt hàng lương thực, thực phẩm. Cụ thể:
1. Về các chính sách giá, bình ổn thị trường đối với mặt hàng lương thực, thực phẩm
- Đối với mặt hàng lương thực:
Theo Điều 15 Luật giá số 11/2012/QH13, thóc, gạo tẻ thường (lương thực) là một trong 11 mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ thực hiện Bình ổn giá. Nhiều năm trở lại đây, mặt hàng lương thực nhìn chung có giá tương đối ổn định, giá chỉ tăng vào dịp cao điểm (cuối năm và Lễ tết) và chủ yếu đối với các loại gạo tẻ chất lượng cao và nếp (mức tăng của năm sau duy trì mức 7- 10% so với năm trước), tuy nhiên, giá tăng theo quy luật thị trường và không xảy ra tình trạng “thiếu hàng, sốt giá” hoặc “găm hàng chờ tăng giá”. Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương luôn theo sát diễn biến thị trường, cân đối cung cầu mặt hàng tránh xảy ra tình trạng mất cân đối cung cầu hoặc tăng giá bất hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.
Nhằm tiếp tục duy trì mức giá ổn định, hợp lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các Bộ, ban ngành và chỉ đạo các Sở Công Thương: (i) Tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến giá thóc, gạo trong nước; cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về giá, chất lượng... mặt hàng lương thực; (ii) Đề nghị doanh nghiệp, nhà phân phối bồi thường thiệt hại khi hàng hóa (thóc, gạo) đã mua không đúng tiêu chuẩn chất lượng, số lượng, giá hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh lương thực đã công bố, niêm yết, cam kết; (iii) Đối với các doanh nghiệp thực hiện chương trình bình ổn thị trường mặt hàng lương thực hoặc các điểm bán bình ổn giá phải thông báo giá điều chỉnh (tăng) trong trường hợp điều chỉnh giá bán thóc, gạo; (iv) Người dân có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về giá theo quy định của Luật giá và quy định khác của pháp luật có liên quan nếu phát hiện cơ sở kinh doanh có dấu hiệu sai phạm.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng cần nâng cao ý thức trong việc thanh toán theo mức giá thỏa thuận, mức giá đã lựa chọn hoặc mức giá do Nhà nước quy định khi mua hàng; Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan khi phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về giá.
- Đối với mặt hàng thực phẩm:
Trong thời gian qua, mặt hàng thực phẩm có sự tăng giảm theo quy luật thị trường nhưng chưa xảy ra hiện tượng găm hàng sốt giá. Mặt hàng thực phẩm là một trong những mặt hàng thiết yếu ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng. Do vậy, những năm qua, thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương luôn theo dõi sát diễn biến tình hình thị trường, cung cầu mặt hàng thực phẩm nhằm có những chỉ đạo kịp thời giúp bình ổn thị trường, tránh để xảy ra hiện tượng tăng giá bất hợp lý. Bộ Công Thương cũng chỉ đạo Sở Công Thương các địa phương tham mưu xây dựng chương trình bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, trong đó thực phẩm là một trong những mặt hàng được hầu hết các địa phương đưa vào danh sách các mặt hàng thực hiện bình ổn.
Tháng 3 năm 2019, trước tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi ngày càng lan rộng tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung làm ảnh hưởng đến nguồn cung mặt hàng thịt lợn an toàn, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm mạnh do lo ngại về chất lượng sản phẩm gây khó khăn cho việc tiêu thụ các sản phẩm thịt lợn bảo đảm an toàn thực phẩm, không nhiễm bệnh, người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, Bộ Công Thương đã có Công văn số 1906/BCT-TTTN ngày 22 tháng 3 năm 2019 gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu thực hiện nghiêm túc một số nội dung: (i) Chỉ đạo các doanh nghiệp chế biến, giết mổ, kinh doanh thịt lợn trên địa bàn tăng cường thu mua giết mổ, chế biến và cấp đông các sản phẩm thịt lợn an toàn đã được cơ quan Thú y xác nhận; (ii) Chủ động kết hợp với các chương trình Bình ổn thị trường và Xúc tiến thương mại, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng các điểm bán hàng lưu động các sản phẩm thịt lợn và sản phẩm chế biến từ thịt lợn được chứng nhận bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm vừa tạo niềm tin của người tiêu dùng vừa kích cầu tiêu dùng trong dân; (iii) Tiếp tục tăng cường các hoạt động truyền thông, đưa tin chính xác về dịch bệnh, tránh gây hoang mang trong dư luận về tiêu dùng sản phẩm thịt lợn, thông tin đầy đủ và sâu rộng về các điểm bán hàng thịt lợn bảo đảm an toàn dịch bệnh nhằm ổn định tâm lý tiêu dùng cho thị trường.
2. Về các giải pháp bảo vệ người tiêu dùng
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật: Kể từ năm 2011 đến nay, Bộ Công Thương đã ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành 04 Nghị định, 05 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nhiều Thông tư, Quyết định, Kế hoạch có liên quan. Đặc biệt, Ban cán sự đảng Bộ Công Thương cũng là đơn vị được Ban Bí thư giao soạn thảo và trình Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện tại, Bộ Công Thương cũng đang phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố tổ chức tổng kết thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giai đoạn 2011-2018. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương dự kiến sẽ có báo cáo Thủ tướng Chính phủ và các cấp có thẩm quyền một cách tổng thể về thực trạng, kết quả thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian vừa qua cũng như các đề xuất sửa đổi, bổ sung (nếu có) đối với các chính sách, pháp luật có liên quan.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến: Bên cạnh việc đề xuất Thủ tướng Chính phủ công nhận ngày 15 tháng 3 hàng năm là ngày Quyền của người tiêu dung Việt Nam, trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện hàng chục ngàn hoạt động mitting, tuần hành, hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo, treo băng rôn, khẩu hiệu, in và phát hành tờ rơi… tới hàng ngàn doanh nghiệp và hàng triệu người tiêu dùng trên khắp cả nước.
- Tăng cường công tác giám sát thị trường, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Trong gian đoạn 2011-2018, trung bình hàng năm, Bộ Công Thương đã tiếp nhận và giải quyết gần 10.000 khiếu nại, yêu cầu của người tiêu dùng, đồng thời thực hiện nhiều hoạt động thanh, kiểm tra trong các lĩnh vực. Riêng trong năm 2018, trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ Công Thương đã tiến hành thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng đối với 04 doanh nghiệp, xử phạt 03 doanh nghiệp với tổng số tiền: 442 triệu đồng. Bộ Công Thương tổ chức 11 đoàn thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thương mại điện tử, trong đó có vấn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử với số tiền xử phạt là khoảng 150 triệu đồng.
- Xây dựng cơ chế phối hợp: Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ trách nhiệm chung của toàn xã hội. Để triển khai tốt công tác này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các cơ quan quản lý chuyên ngành (ví dụ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cần sự phối hợp chặt chẽ của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn…). Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ chủ động đề xuất và thực hiện việc phối hợp với các cơ quan khác nhau để có thể vừa bảo đảm thực hiện tốt trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan có liên quan trong lĩnh vực phụ trách mà còn giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong các lĩnh vực đó (Ví dụ xây dựng cơ chế phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thông tin truyền thông trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung hoặc phối hợp với một số Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trong việc giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tiêu dùng…).
Câu số 7:
Thời gian qua, Bộ Công Thương đã xây dựng dự thảo Thông tư ban hành quy chuẩn quốc gia về khoảng cách an toàn đối với các cơ sở, dự án hóa chất nguy hiểm. Tuy nhiên, khi xem xét đánh giá tác động khi áp dụng quy chuẩn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thiếu tính khả thi do nhiều cơ sở hoá chất nằm trong khu dân cư, cần có lộ trình và phải có sự phối hợp của nhiều tỉnh thành trên cả nước.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nghiên cứu, đánh giá khả năng thiết lập khoảng cách an toàn đối với các cơ sở hoạt động hóa chất nguy hiểm để đề xuất triển khai xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật về khoảng cách an toàn cụ thể đối với các cơ sở hóa chất này.
Về việc xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn kho chứa hóa chất, Bộ Công Thương đang chủ trì xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hóa chất nguy hiểm - quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển, trong đó có quy định đối với kho chứa hóa chất nguy hiểm. Dự thảo Quy chuẩn dự kiến ban hành trong năm 2020./.

