A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bộ Công Thương họp báo thường kỳ Quý III/2026

Chiều 7/10, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức họp báo thường kỳ quý III/2026. Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng chủ trì họp báo. Cùng tham dự có lãnh đạo các Cục, Vụ, đơn vị trong Bộ Công Thương và phóng viên, nhà báo của các cơ quan thông tấn báo chí.

Sản xuất công nghiệp, thương mại, năng lượng tăng trưởng cao

Tại họp báo, thông tin về tình hình hợp tác kinh tế, thương mại, công nghiệp trong tháng 9 và 9 tháng năm 2026, ông Bùi Huy Sơn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Công Thương cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Ngành Công Thương đã chủ động theo sát thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất - xuất khẩu.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng chủ trì họp báo.

Theo đó, kết quả sản xuất công nghiệp, thương mại và năng lượng trong tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2026 đạt nhiều kết quả tích cực, ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Riêng ngành Công Thương, hoạt động sản xuất, thương mại và năng lượng nhìn chung duy trì xu hướng khả quan. Cụ thể:

Thứ nhất, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng, IIP tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ và tăng 3,26% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng tăng 12,33%, sát kịch bản 9 tháng (12,28%). Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính, tăng 12,93% (riêng tháng 9 tăng 17,12%).

Thứ hai, thị trường trong nước tiếp tục là bệ đỡ của tăng trưởng với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ và tăng 1,7% so với tháng trước.

Lũy kế 9 tháng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4%, nằm trong dải mục tiêu cả năm và vượt kế hoạch 9 tháng 1,4%. Quý III ước đạt khoảng 2.039 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%.

Thứ ba, hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng mạnh 24,5% (riêng tháng 9 tăng 39,1%, đạt mức cao nhất từ đầu năm). Khu vực FDI chiếm 80,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 29,2%, khu vực doanh nghiệp trong nước tăng 8,1%; tăng trưởng tập trung chủ yếu vào nhóm điện tử, máy móc và thiết bị. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu 9 tháng tăng 36,7%, trong đó khoảng 90,5% là máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước và gia công hàng xuất khẩu.

Ông Bùi Huy Sơn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Công Thương báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất công nghiệp, thương mại tháng 9 và 9 tháng năm 2026.

Thứ tư, tiếp tục bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia. Hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và đời sống. Điện sản xuất và nhập khẩu 9 tháng đạt 266,58 tỷ kWh, tăng 9,65% so với cùng kỳ, đạt khoảng 76% kế hoạch năm; tháng 9 đạt 30,73 tỷ kWh, tăng 11,95%.

Điện thương phẩm đạt 237,19 tỷ kWh, tăng 9,66%, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 122,18 tỷ kWh (tăng 8,32%), khu vực thương mại, khách sạn, nhà hàng tăng 13,61%. Tỷ lệ dự phòng công suất nguồn khoảng 26 %, cao hơn mục tiêu 21,8%. Nguồn cung xăng dầu được bảo đảm, không để đứt gãy dù giá dầu thế giới biến động.

Thứ năm, thương mại điện tử tiếp tục phát triển, tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử đạt 68%, vượt mục tiêu. Tuy nhiên, quy mô thị trường B2C mới tăng 19,5%, chưa đạt mục tiêu 20-22%. Trọng tâm quý IV cần chuyển mạnh từ mở rộng mức độ tham gia sang nâng cao hiệu quả giao dịch, chất lượng dịch vụ và năng lực quản lý nền tảng số.

Triển khai đồng bộ 6 nhóm giải pháp, hoàn thành cao nhất mục tiêu đề ra

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trong 9 tháng đầu năm, bước sang Quý IV/2026, nền kinh tế nói chung và ngành Công Thương nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đan xen, chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết phải chủ động theo dõi, linh hoạt thích ứng và tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm trong 3 tháng cuối năm để hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026.

Theo đó, trong những tháng cuối năm, ngành Công Thương sẽ tập trung triển khai 6 nhóm giải pháp:

Một là, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phục hồi sản xuất công nghiệp: Giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về đơn hàng, nguyên vật liệu; hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo; đẩy nhanh tiến độ đưa các dự án công nghiệp lớn, có khả năng tạo ngay sản lượng mới vào vận hành trong năm.

Hai là, bảo đảm an ninh năng lượng: Đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thành các dự án nguồn điện, lưới điện trọng điểm; rà soát, cập nhật phương án vận hành hệ thống điện theo các kịch bản phụ tải đỉnh điểm cuối năm, bảo đảm đủ nguyên nhiên liệu cho phát điện. Cập nhật liên tục diễn biến giá dầu và các tuyến vận tải quốc tế; chủ động đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết giá, thuế, phí và dự trữ quốc gia nhằm bình ổn thị trường trong nước, giảm thiểu tác động của cú sốc giá từ bên ngoài.

Ba là, đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực tuân thủ. Trong quý IV, Bộ Công Thương tập trung khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, mở rộng các thị trường mới; nâng cao năng lực cảnh báo sớm về các vụ việc phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và quy định xuất xứ.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và minh bạch chuỗi cung ứng. Thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch, mở rộng các thỏa thuận/nghị định thư về kiểm dịch nông sản; tăng cường đầu tư hạ tầng logistics lạnh và chuẩn hóa vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng quy định của từng thị trường đối tác.

Bốn là, kích cầu tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước: Tập trung triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, chương trình khuyến mại tập trung quốc gia, kết nối cung - cầu hàng hóa và phát triển hạ tầng thương mại hiện đại. Tăng cường theo dõi, đôn đốc sức mua và tổng mức bán lẻ tại các trung tâm tiêu dùng lớn và các địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp, bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu, phục vụ tốt nhu cầu dịp cao điểm cuối năm và Tết Nguyên đán.

Năm là, tăng tốc phát triển thương mại điện tử gắn với quản lý thị trường số lành mạnh. Với nhiệm này, Bộ Công Thương xác định tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đưa tăng trưởng thương mại điện tử B2C đạt dải mục tiêu 20-22%. Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh ứng dụng chuyển đổi số và tham gia sàn thương mại điện tử xuyên biên giới.

Ngoài ra, tăng cường công tác quản lý, xác thực thông tin người bán, đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước trên không gian mạng.

Sáu là, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, đồng hành cùng doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tại họp báo, Thứ trưởng Phan Thị Thắng và đại diện các đơn vị chức năng thuộc Bộ đã trả lời nhiều câu hỏi của phóng viên liên quan đến những vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương được dư luận xã hội quan tâm.

I. Nhóm vấn đề liên quan đến thị trường trong nước

1. Nhà báo Quỳnh Thương – Báo điện tử Dân trí

Câu hỏi: Nếu cho phép doanh nghiệp tự quyết giá bán lẻ xăng dầu, Bộ Công Thương sẽ có những công cụ nào để kiểm soát, giám sát việc hình thành giá, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp điều chỉnh giá tăng nhanh nhưng giảm chậm so với diễn biến giá thế giới? Bộ có tính đến việc đặt ra giới hạn hoặc nguyên tắc nào đối với biên độ, tần suất điều chỉnh giá để hạn chế rủi ro người tiêu dùng phải mua xăng dầu với giá cao bất hợp lý?

Bà Nguyễn Thuý Hiền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Thứ nhất, dự thảo xuyên suốt với mục tiêu xây dựng nghị định là giá xăng dầu sẽ bám sát theo cơ chế thị trường và có sự quản lý của Nhà nước. Dự thảo đã trao quyền quyết định giá cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp tính toán giá bán theo công thức Nhà nước quy định.

Một công cụ để Nhà nước giám sát: khi doanh nghiệp tự tính toán theo công thức, quyết định giá bán, doanh nghiệp phải kê khai các yếu tố cấu thành giá và mức giá bán, giải trình việc biến động khi thay đổi giá bán với cơ quan nhà nước.

Việc kê khai được thực hiện trên hệ thống cơ sở dữ liệu về giá do Bộ Công Thương xây dựng. Cơ sở dữ liệu về giá do Bộ Công Thương xây dựng sẽ được hoàn chỉnh và áp dụng trong cả nước.

Đối với phần mềm này cũng sẽ có những cảnh báo đối với các yếu tố bất thường về giá để các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Công Thương cũng như Bộ Công Thương giám sát từ những cảnh báo này và có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên khi doanh nghiệp quyết định giá, thay đổi giá bán. Đây là yếu tố giám sát đầu tiên.

Thứ hai, hệ thống cảnh báo này cũng sẽ cảnh báo rất kịp thời đến các Sở Công Thương và lực lượng quản lý thị trường để biết được những thương nhân nào kê khai nhưng không giải trình được hết các yếu tố biến động làm tăng mức giá hay giảm mức giá. Đây là công cụ xuyên suốt trong quá trình chúng tôi xây dựng.

Ngoài ra, đối với nguyên tắc quy định tần suất hay biên độ thay đổi giá, khi doanh nghiệp thay đổi giá, họ cũng phải có những căn cứ nhất định để thay đổi giá.

Theo quy định, Nhà nước sẽ không điều hành giá hàng tuần nữa mà doanh nghiệp thay đổi giá căn cứ hoạt động kinh doanh thực tế theo chu kỳ của doanh nghiệp mình, khi các yếu tố hình thành giá có sự thay đổi, như: chi phí đầu vào thay đổi, lợi nhuận thay đổi hay chi phí kinh doanh định mức thay đổi… để xác định giá và doanh nghiệp phải giải trình sự thay đổi các yếu tố này.

Hai là, doanh nghiệp cũng phải căn cứ vào sự thay đổi của chi phí kinh doanh định mức. Trong tất cả các yếu tố hình thành giá, có một yếu tố chi phí kinh doanh định mức Nhà nước vẫn còn đang quy định để thông báo cho doanh nghiệp đưa vào công thức tính.

Thứ ba, khi Nhà nước sử dụng công cụ bình ổn giá, tức là điều hành bình ổn giá xăng dầu, doanh nghiệp cũng căn cứ vào đây để thay đổi giá.

Đây là những công cụ, những nguyên tắc mà chúng tôi đang thiết kế để quản lý giá xăng dầu khi doanh nghiệp quyết định giá bán.

2. Nhà báo Hồng Hạnh – Báo Xây dựng

Câu hỏi: Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi nghị định kinh doanh xăng dầu, trong đó giá bán được tính từ giá mua do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chuyên gia Nguyễn Tiến Thoả cho rằng cách tính này dễ dẫn tới quy tắc “mua cao – bán cao, mua thấp – bán thấp” theo thực tế, mà không theo biến động thế giới từng ngày, khiến giá trong nước “lệch pha” với giá thế giới. Vậy Tổ soạn thảo đánh giá thế nào về nguy cơ này và có giải pháp gì để giá bán trong nước phản ánh kịp thời biến động của giá xăng dầu thế giới?.

Bà Nguyễn Thuý Hiền – Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Nhà báo Hồng Hạnh cũng có hỏi một ý gần tương tự như nhà báo Quỳnh Thương, đặt ra nguy cơ mua cao bán cao, mua thấp bán thấp. Ý muốn nói rằng không theo thị trường, ví dụ khi giá thị trường cao thì phải tăng lên hoặc khi giá thị trường giảm thì cũng phải giảm tương ứng nhưng doanh nghiệp chưa giảm tương ứng.

Thực ra, cần làm rõ rằng chúng ta không thể quy định cứng nhắc khi mua cao thì bán cao, mua thấp thì bán thấp. Cái này rất khó phân biệt, đặc biệt đối với những mặt hàng lỏng như xăng dầu, không phải mặt hàng vật chất (khô) mà chúng ta có thể nhìn thấy rõ, phân định rõ được bởi vì khi nhập về, với kho bãi như vậy, có thể lô hàng giá cao chưa bán hết, họ mua lô hàng giá thấp đổ lẫn vào. Trong suốt thời gian nắm giữ hàng hóa, không có nghĩa giá bán phải vận động theo từng lô hàng. Cái này rất khó xác định. Cho nên việc quy định giá cũng phải tiếp cận hướng tới một cơ chế giá có tính thị trường hơn, trong đó doanh nghiệp được chủ động và chịu trách nhiệm về quyết định giá này, tuân thủ nguyên tắc minh bạch, sát với thị trường và cạnh tranh.

Mục tiêu của chúng tôi trong quy định cơ chế giá là giá bán của doanh nghiệp cũng phải bám sát tín hiệu của thị trường. Mục tiêu cao nhất là làm thế nào để đảm bảo nguồn cung và an ninh năng lượng.

Đối với những nội dung mà nhà báo nêu, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu để xem có những giải pháp nào và tiếp tục tiếp thu, hoàn thiện.

3. Nhà báo Ngọc An – Báo Tuổi trẻ

Câu hỏi: Liên quan tới nghị định sửa đổi kinh doanh xăng dầu, đưa ra những điều kiện đối với thương nhân đầu mối, đặc biệt là 2 năm liên tiếp phải đáp ứng tổng nguồn cung tối thiểu 300.000 m3/tấn/năm. Vậy Bộ Công Thương cho biết vì sao cần phải áp dụng quy định này? Việc thực hiện phân giao tổng nguồn tối thiểu của doanh nghiệp đầu mối xăng dầu ra sao trong 2 năm vừa qua thế nào và liệu có bao nhiêu DN có khả năng đáp ứng? Trong cơ cấu tính giá xăng dầu theo dự thảo, doanh nghiệp nhỏ lo lắng mức giá sẽ do đầu mối chi phối và tạo sự thiếu công bằng, cạnh tranh lành mạnh? Bộ Công Thương tiếp thu các ý kiến này thế nào trong dự thảo trình Chính phủ?

Bà Nguyễn Thuý Hiền – Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Đối với nội dung nâng mức thực hiện tổng nguồn cung tối thiểu đối với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, nằm trong chỉ đạo chung của Chính phủ là xây dựng Nghị định về kinh doanh xăng dầu theo hướng tái cơ cấu đầu mối và nâng cao năng lực của các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu khi tham gia thị trường.

Về hạn mức phân giao tối thiểu hàng năm trước đây cho các doanh nghiệp dựa trên hạn mức thực hiện năm trước của doanh nghiệp và tổng mức tiêu thụ dự kiến của cả nước. Cái này chưa thể hiện rõ được năng lực, bởi vì có những doanh nghiệp thương nhân đầu mối thực hiện tổng mức tối thiểu rất thấp.

Ở đây chúng ta đang đặt ra vấn đề đối với các doanh nghiệp đầu mối phải là những doanh nghiệp có đủ năng lực để đảm bảo cung ứng hàng hóa, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

Xuất phát từ nội dung này, chúng tôi có tính toán và nâng điều kiện đối với các thương nhân đầu mối, phải đáp ứng được tổng nguồn tối thiểu 300.000 m³/năm. Với việc nâng tổng mức tối thiểu của các doanh nghiệp đầu mối, tại thời điểm hiện nay có khoảng hơn một nửa số thương nhân đầu mối sẽ đạt hạn mức này.

Tuy nhiên, không có nghĩa một nửa doanh nghiệp không đạt hạn mức này và nếu không thực hiện trong 2 năm, như dự thảo quy định bắt đầu áp dụng từ năm 2027, thì sẽ loại bỏ, rời thị trường ngay được .

Khi chúng ta nâng điều kiện lên, đối với những doanh nghiệp vẫn tiếp tục có nhu cầu tham gia thị trường xăng dầu, họ phải tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng hệ thống phân phối xăng dầu, nâng tổng mức thực hiện tối thiểu để đạt được điều kiện này. Cho nên chúng ta cũng không thể nói được rằng khi nâng mức này lên thì loại bỏ được ngay các doanh nghiệp không đạt điều kiện, có những doanh nghiệp họ cố gắng đạt được điều kiện này.

Một nội dung nữa phóng viên cũng nêu có sự lo ngại khi các thương nhân đầu mối với quy định như hiện nay tại dự thảo thì sẽ chi phối giá bán và như vậy sẽ không công bằng cho những doanh nghiệp bán lẻ.

Thực ra, nếu chúng ta đọc kỹ trong dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu hiện nay thì không phải mỗi thương nhân đầu mối được quyết định giá. Hiện nay chúng ta đang thiết kế theo hướng thương nhân đầu mối và những thương nhân phân phối hoạt động độc lập cũng được quyết định giá.

Như vậy, thị trường sẽ có sự cạnh tranh giá bởi các thương nhân đầu mối và các thương nhân phân phối độc lập.

Hiện nay, với việc thiết kế giảm tầng nấc trung gian phân phối như trước đây, trước đây có ba tầng nấc, hiện nay giảm xuống còn hai tầng nấc. Với việc giảm tầng nấc trung gian, sắp tới thị trường xuất hiện nhiều thương nhân phân phối. Chúng tôi đang dự kiến với mô hình mới này, nếu các doanh nghiệp thực hiện ngay theo quy định mà họ chuyển đổi thì có thể có khoảng hơn 10.500 doanh nghiệp tư nhân phân phối xăng dầu và họ được quyết định giá bán.

Như vậy, thị trường cạnh tranh rất khốc liệt, rất mạnh mẽ. Cho nên không lo ngại việc thương nhân đầu mối chi phối hoàn toàn giá. Trong bối cảnh đó, thương nhân đầu mối cũng phải cạnh tranh rất mạnh với các thương nhân phân phối. Đặc biệt, ở những vùng sâu, vùng xa, những nơi mà thương nhân phân phối hoạt động ngay tại những địa bàn đó thì việc cạnh tranh đối với họ rất khó.

Đối với thiết kế của dự thảo hiện nay, khó có thể có việc thương nhân đầu mối chi phối hoàn toàn giá.

Hiện nay cũng có một ý kiến lo ngại về việc quy định cơ chế giá như hiện nay có thể có sự bắt tay giữa các doanh nghiệp để thông đồng và nâng giá lên. Trong quá trình hoàn thiện dự thảo, chúng tôi cũng đã tiếp thu ý kiến tại cuộc họp ngày 10 tháng 9 cũng như ý kiến của các doanh nghiệp và cá nhân gửi đến. Chúng tôi cũng đã bổ sung những quy định về việc xử lý trong thỏa thuận cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh.

4. Nhà Báo Uyên Hương – Bnews/TTXVN

Câu hỏi: Thưa ông xung đột Trung Đông và xung đột Nga-Ukraine tiếp tục diễn biến phức tạp, đang ảnh hưởng như thế nào với nguồn cung và giá bán xăng dầu và dầu thô nhập khẩu về Việt Nam?

Bà Nguyễn Thuý Hiền – Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Hiện nay, tình hình ở Trung Đông vẫn diễn biến phức tạp, khó đoán định, chưa có có một năm nào tình hình cứ liên tục biến động, thay đổi, một tuần thay đổi theo hướng tích cực, một tuần lại thay đổi theo hướng không tích cực. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

Tuy nhiên, đối với Bộ Công Thương, như các đồng chí đã biết, ngay từ lúc chiến tranh Trung Đông diễn ra, Bộ cũng đã rất chủ động xây dựng các phương án để ứng phó. Kết quả như các đồng chí đã biết, trong bối cảnh từ tháng 3, tháng 4 là thời điểm căng thẳng nhất hay trong bối cảnh hiện nay, ví dụ như Nga là một nước sản xuất dầu cũng như các nước khu vực châu Âu đang gặp khó khăn trong việc cung ứng xăng dầu, thì trong nước chúng ta nguồn cung vẫn đang được đảm bảo.

Báo cáo với các đồng chí, tình hình nguồn cung xăng dầu hiện nay, các doanh nghiệp đang thực hiện bám sát tổng nguồn tối thiểu được phân giao, tồn kho của các nhà máy hiện nay đang rất cao, nguồn cung sẽ được đảm bảo.

Về giá xăng dầu vẫn tiếp tục được Bộ Công Thương điều hành theo sát giá thế giới và thực hiện điều hành, sử dụng linh hoạt các biện pháp.

Như các đồng chí đã biết, để tiếp tục bình ổn giá xăng dầu, Chính phủ tiếp tục gia hạn việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu, cũng như thuế giá trị gia tăng… đối với mặt hàng xăng dầu để hỗ trợ giá xăng dầu.

Hiện nay, Bộ Công Thương điều hành bám sát giá thị trường thế giới, linh hoạt kết hợp với việc tiếp tục sử dụng Quỹ Bình ổn để bình ổn giá xăng dầu khi cần thiết. Do vậy, từ giờ đến cuối năm, chúng tôi cũng đã cân đối tổng nguồn và về cơ bản chúng ta sẽ đáp ứng đủ xăng dầu phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Giá tiếp tục điều hành bám sát giá thế giới và tiếp tục điều hành linh hoạt bám sát thế giới và sử dụng Quỹ Bình ổn xăng dầu để điều hành khi cần thiết.

5. Nhà báo Minh Tuấn - Tạp chí Nhà đầu tư

Câu hỏi: Liên quan đến tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4% theo giá hiện hành so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng chỉ còn 7,8%. Xin Bộ đánh giá về lực cầu tiêu dùng hiện nay và liệu tiêu dùng của hộ gia đình có đáp ứng được mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số của cả nước trong năm nay hay không? Vai trò của cầu tiêu dùng đối với đóng góp vào tăng trưởng năm nay được đánh giá như thế nào?

Bà Nguyễn Thúy Hiền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời:

Đối với thị trường nội địa, trong thời gian vừa qua, thị trường nội địa đã đóng góp rất tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong 9 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,8% so với cùng kỳ. Chúng tôi cho rằng, đây là một mức tăng trưởng rất đáng khích lệ.

Đối với nhu cầu cuối năm, như chúng ta đã dự kiến, đến thời điểm này đã hết 9 tháng và chúng ta còn 3 tháng nữa là hết năm. Cuối năm, theo dự báo của chúng tôi, nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng cao, nhất là vào các dịp lễ, Tết. Các doanh nghiệp cũng cố gắng hoàn thành kế hoạch, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng.

Tôi cho rằng, với nhu cầu tăng cao như vậy, việc đóng góp của tổng mức bán lẻ vào GDP cũng như tăng trưởng tổng mức bán lẻ sẽ tiếp tục được thúc đẩy, phấn đấu đạt mức trên hai con số và đạt được chỉ tiêu Chính phủ đề ra.

Về giải pháp để đạt mục tiêu này, chúng tôi tiếp tục triển khai các giải pháp đang thực hiện. Trước hết là kích cầu tiêu dùng, tổ chức nhiều chương trình khuyến mại, các chương trình khuyến mại tập trung vào cuối năm; triển khai các hoạt động kết nối cung cầu hàng hóa; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tiêu dùng hàng hóa trên môi trường thương mại điện tử.

Đây là những nội dung chúng tôi tiếp tục tập trung đẩy mạnh, cố gắng phấn đấu đạt mức tăng trưởng tổng mức bán lẻ cao nhất, theo mục tiêu Chính phủ đề ra.

II. Nhóm vấn đề liên quan đến đảm bảo cung ứng điện

1. Nhà báo Hồng Hạnh - Báo Xây dựng:

Câu hỏi: Dự án LNG Hải Phòng khởi động đầu năm 2026, được kỳ vọng bổ sung nguồn điện nền cho miền Bắc trong bối cảnh dự phòng nguồn thấp. Xin hỏi, dự án hiện còn triển khai đúng tiến độ không, dự kiến khi nào hoàn thành và phát điện? Trong bối cảnh Bộ Công Thương cảnh báo nguy cơ thiếu nguồn từ năm 2027, nếu dự án chậm tiến độ, phương án nào sẽ bù đắp phần công suất thiếu hụt?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Dự án LNG Hải Phòng được khởi công từ tháng 9/2025 và đã triển khai được một số mốc tiến độ quan trọng, đặc biệt trong việc đạt được thoả thuận cung cấp Tuabin khí (trái tim của Nhà máy) với nhà cung cấp GE, Hoa Kỳ.

Trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã nhận được đề xuất đầu tư Tổ hợp dự án năng lượng tái tạo kết hợp với hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) là phương án thay thế Dự án Nhà máy nhiệt điện khí LNG Hải Phòng. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ và kiến nghị cần tiếp tục triển khai đầu tư dự án LNG Hải Phòng theo quy hoạch được duyệt và xin ý kiến chỉ đạo đối với chủ trương triển khai Đề án Tổ hợp năng lượng tái tạo kết hợp với BESS như nêu trên, Bộ Công Thương sẽ kịp thời thông tin cho các cơ quan báo chí về việc triển khai Dự án ngay sau khi được phê duyệt của cấp thẩm quyền.

2. Nhà báo Phan Hậu - Báo Thanh niên:

Câu hỏi: Bộ Công Thương xây dựng kịch bản cung ứng điện thế nào, khi dự báo ảnh hưởng siêu Elnino, các nhà máy thủy điện sẽ không tích đủ nước, nguy cơ thiếu điện mùa khô năm 2027?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Trước diễn biến thời tiết còn tiềm ẩn nhiều yếu tố cực đoan và khó lường, dự báo từ nay đến cuối năm 2026 có thể xuất hiện các đợt mưa bão và lũ lớn, đồng thời để chuẩn bị tốt công tác cung ứng điện năm 2027-2030, Bộ Công Thương đã và đang triển khai đồng bộ các giải pháp, tăng cường chỉ đạo các đơn vị liên quan chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh có thể xảy ra, với mục tiêu cao nhất là bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định, liên tục cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, cụ thể như sau:

Về công tác bảo đảm cung ứng điện trong các tháng còn lại năm 2026 và công tác ứng phó mùa mưa bão

Thứ nhất là chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công Thương, NSMO, các đơn vị phát điện, quản lý vận hành lưới điện và các đơn vị liên quan tập trung theo dõi sát diễn biến nhu cầu phụ tải, tình hình thời tiết, thủy văn, khả năng cung ứng nhiên liệu và tình hình vận hành của các nguồn điện, lưới điện, từ đó xây dựng, cập nhật, đề xuất các giải pháp để chủ động ứng phó với các tình huống bất thường có thể xảy ra trong thời gian tới.

Thứ hai là để ứng phó kịp thời các tình huống phát sinh trong giai đoạn mưa bão, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các đơn vị điện lực sẵn sàng bố trí đầy đủ nhân lực, phương tiện, tăng cường lực lượng ứng trực trong thời gian mưa bão; tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ hành lang tuyến, thiết bị lưới điện và các công trình điện; thực hiện các giải pháp vận hành lưới điện linh hoạt, huy động hợp lý các nguồn điện và vận hành các hồ thủy điện trên nguyên tắc tuân thủ các quy trình vận hành đơn hồ và liên hồ chứa; chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng để sẵn sàng xử lý, khắc phục sự cố trong thời gian nhanh nhất.

Thứ ba là công tác vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện. Trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã chỉ đạo NSMO chủ trì, phối hợp chặt chẽ với  Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và chủ đầu tư các nhà máy thủy điện thường xuyên theo dõi, cập nhật diễn biến và dự báo thủy văn, cập nhật mực nước các hồ thủy điện, chủ động làm việc với các cơ quan có thẩm quyền về nhu cầu sử dụng nước vùng hạ du để xây dựng phương án điều tiết các hồ thủy điện hợp lý; thực hiện các giải pháp vận hành các hồ thủy điện linh hoạt nhằm bảo đảm đồng thời 2 mục tiêu là duy trì dung tích phòng lũ để điều tiết hồ chứa, cắt/giảm lũ bảo đảm an toàn hồ đập, hạ du và duy trì công suất các nhà máy thủy điện trong mùa khô năm 2026, lên kế hoạch tích nước các hồ thủy điện lên mực nước dâng bình thường vào cuối năm 2026 để phục vụ phát điện cho mùa khô năm 2027.

Thứ tư là chỉ đạo các đơn vị phát điện phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp nhiên liệu tiếp tục công tác bảo đảm cung ứng nhiên liệu (than, dầu và khí) cho sản xuất điện; thực hiện các giải pháp về giám sát, vận hành, lên kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa, khắc phục các khiếm khuyết còn tồn tại, nhanh chóng khắc phục các sự cố các tổ máy phát (nếu có).

Thứ năm là tiếp tục đôn đốc tiến độ các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm. Trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư nhà máy điện, lưới điện phối hợp chặt chẽ với UBND các tỉnh trong công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng, cung ứng thiết bị để đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ.

Thứ sáu là chỉ đạo EVN và các đơn vị điện lực nâng cao hiệu quả công tác dự báo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác dự báo phụ tải; triển khai các chương trình quản lý nhu cầu điện, điều chỉnh phụ tải, sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, nhất là trong các thời gian cao điểm sử dụng điện.

3. Nhà báo Nguyên Long - Đài Tiếng nói Việt Nam:

Câu hỏi: Qua 9 tháng, ngành Công Thương đã ghi nhận hầu hết các lĩnh vực đạt và vượt yêu cầu/mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, còn 2 lĩnh vực có thể sẽ tác động rất mạnh đến tăng trưởng của năm 2027 và các năm tiếp theo, đó là tốc độ tăng trưởng tổng công suất nguồn điện và tăng trưởng thị trường thương mại điện tử B2C.

Riêng về tốc độ tăng trưởng tổng công suất nguồn điện (mục tiêu đặt ra phải tăng trưởng 6,6% nhưng qua 9 tháng chỉ đạt khoảng 3,5%) là khá thấp. Xin được hỏi đâu là giải pháp để đạt được mục tiêu này, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng năm 2027 và các năm tiếp theo?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Trong Quy hoạch điện VIII, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và Kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch điện VIII đã được các cấp thẩm quyền phê duyệt, Bộ Công Thương có tính đến tốc độc tăng trưởng công suất nguồn điện để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.Tuy nhiên, sau khi thay đổi chính quyền địa phương 2 cấp, không gian phát triển của các địa phương có nhiều thay đổi, chuyển dịch nhu cầu, như: xe điện, trung tâm dữ liệu, AI (có nhu cầu sử dụng điện rất lớn) tại các địa phương ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu sử dụng điện cũng có sự thay đổi theo.

Ngay từ đầu, Bộ Công Thương đã có đánh giá việc đáp ứng chỉ tiêu tăng trưởng nguồn điện trong giai đoạn 2026-2030 là có nhiều thách thức, xong với quyết tâm chính trị, Bộ Công Thương vẫn quyết liệt chỉ đạo thực hiện các giải pháp để đảm bảo mục tiêu đề ra, tuy nhiên việc tổ chức thực hiện có nhiều lý do chủ quan và khách quan trong đó phải có sự tham gia đồng bộ, phối kết hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, bộ, ngành và các chính quyền địa phương các cấp.

Về các giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng công suất nguồn điện trong thời gian tới:

Thứ nhất là hoàn thiện các điểm nghẽn thể chế:

Hiện Bộ Công Thương đang khẩn trương rà soát sửa đổi Luật Điện lực (dự kiến trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2, khai mạc ngày 17/10/2026 tới đây) theo tinh thần thể chế hoá đầy đủ các nội dung tại Nghị quyết Trung ương 70 về đảm bảo an ninh năng lượng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhiều nội dung lớn, đột phá sẽ được tháo gỡ sau khi Luật Điện lực sửa đổi được ban hành.

Thứ hai là gắn chặt trách nhiệm với các địa phương:

Theo báo cáo tổng hợp, danh mục các dự án theo Quyết định Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1509/QĐ-BCT ngày 30/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Công Thương triển khai rất chậm, tỷ lệ đưa vào hoàn thành thấp, nguyên nhân cũng đến từ công tác tổ chức thực hiện như chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, giải phóng mặt bằng,... chậm, đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt từ các địa phương.

Thứ ba là nguồn lực đầu tư các dự án nguồn điện rất lớn:

Các dự án nguồn điện cần nhu cầu đầu tư rất lớn, phải huy động từ tất cả các nguồn lực trong xã hội cả khối nhà nước, tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài trong khi giá điện chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư, thủ tục đất đai, giải phóng mặt bằng,... còn nhiều khó khăn, dẫn đến chưa thu hút được.

Hiện nay, Bộ Công Thương đang có báo cáo tổng thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp để đảm bảo cung ứng điện giai đoạn 2027-2030, sau khi được phê duyệt, Bộ Công Thương sẽ khẩn trương triển khai thực hiện và tiếp tục, kịp thời cung cấp thông tin đến các cơ quan báo chí.

4. Nhà báo Ngọc An - Báo Tuổi trẻ:

Câu hỏi: Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang được yêu cầu xây dựng đề án tái cơ cấu để trình Chính phủ và hiện đã báo cáo các bộ ngành liên quan. Trong bối cảnh việc triển khai các dự án nguồn, lưới điện đang có nhiều khó khăn, Bộ Công Thương cho biết quan điểm về việc thực hiện tái cơ cấu EVN gắn với tái cơ cấu thị trường điện ra sao, đặc biệt liên quan tới chỉ đạo tách EVNNPT ra khỏi EVN, cơ cấu lại các Tổng công ty phát điện và TCT phân phối?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, xu thế tại các quốc gia phát triển thị trường điện cạnh tranh thành công đều dựa trên nguyên tắc cốt lõi: tách bạch giữa khâu mang tính độc quyền tự nhiên và khâu mạng tính cạnh tranh trong chuỗi sản xuất điện năng cung ứng cho khách hàng sử dụng điện.

Cụ thể, chuỗi cung ứng điện năng được phân định thành 2 nhóm:

- Khâu độc quyền tự nhiên: ngoài khâu vận hành hệ thống điện và thị trường điện đã thực hiện tách bạch (NSMO đã được thành lập và chuyển về Bộ Công Thương quản lý), các khâu truyền tải và phân phối điện đều không mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nếu đầu tư trùng lặp. Các khâu này thường được tách biệt về mặt tổ chức, quản lý độc lập và đặt dưới sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước để đảm bảo tính trung lập và tiếp cận công bằng.

- Khâu mang tính cạnh tranh bao gồm khâu phát điện và bán lẻ điện: được thiết kế để mở cửa, thu hút đa dạng các thành phần kinh tế tham gia cạnh tranh nhằm tối ưu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và chất lượng dịch vụ.

Trên cơ sở đó, thực hiện nhiệm vũ Lãnh đạo Chính phủ giao, Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ ngành và đơn vị liên quan xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành điện phục vụ phát triển thị trường điện cạnh tranh các cấp độ với mục tiêu rà soát hiện trạng các khâu trong chuỗi cung ứng điện năng và đề xuất các phương án tái cơ cấu ngành điện phục vụ hình thành và phát triển thị trường bán lẻ điện - cấp độ cuối cùng của thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam, trong đó có bao gồm định hướng điều chỉnh cơ cấu của EVN và các đơn vị thành viên, cụ thể:

- Khâu phát điện: kế thừa định hướng cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các Tổng công ty Phát điện thuộc các Tập đoàn tại Đề án tái cơ cấu ngành điện phục vụ thị trường bán buôn điện cạnh tranh trước đây (được TTgCP phê duyệt tại Quyết định số 168/QĐ-TTg ngày 07/02/2017) để tạo nguồn lực cho các Tập đoàn thực hiện đầu tư các dự án nguồn điện. Đồng thời xem xét thành lập Tổng công ty Phát điện Chiến lược Quốc gia trên cơ sở hợp nhất các nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu để tận dụng khả năng cạnh tranh trên thị trường của các nhà máy này tạo nguồn lực đầu tư các nguồn điện mang ý nghĩa chiến lược do nhà nước độc quyền đầu tư xây dựng và vận hành theo quy định tại Luật Điện lực;

- Khâu truyền tải điện: sớm thực hiện tách EVNNPT khỏi EVN và chuyển về Bộ chuyên ngành quản lý để phục vụ phát triển thị trường điện cạnh tranh cũng như đảm bảo tính đồng bộ nguồn – lưới trong việc triển khai Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia;

- Khâu phân phối/bán lẻ điện: thực hiện tách bạch giữa bộ phận phân phối và bán lẻ điện tại các Tổng công ty Điện lực trực thuộc EVN với một lộ trình dài hạn theo hướng tách bạch về chi phí, tách bạch về mặt tổ chức, tách bạch về mặt sở hữu, do các TCTĐL theo thiết kế trong tương lai sẽ đóng vai trò là đơn vị mua điện cạnh tranh trên thị trường bán buôn điện và đơn vị bán lẻ điện mặc định cho khách hàng sử dụng điện trong thị trường bán lẻ điện, việc thực hiện tách bạch theo lộ trình từng bước là cần thiết để đảm bảo khả năng tài chính cho các đơn vị này ký kết các hợp đồng quản lý rủi ro với các đơn vị phát điện.

5. Nhà báo Ngô Cường - Báo Lao Động:

Câu hỏi: Theo Quyết định số 963/QĐ-BCT ngày 22/4/2026 quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, khung giờ cao điểm được quy định từ 17h30 đến 22h30, từ thứ Hai đến thứ Bảy, còn Chủ nhật không áp dụng giờ cao điểm. Xin hỏi, cơ chế giá điện theo giờ cao điểm - thấp điểm hiện được áp dụng như thế nào, đặc biệt đối với khách hàng sử dụng điện sinh hoạt?

Ông Bùi Quốc Hùng - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời:

Giờ cao điểm là từ 17h30 đến 22h30, từ thứ Hai đến thứ Bảy; Chủ nhật thì không có giờ cao điểm. Hiện nay, về giá điện theo giờ cao điểm, thấp điểm, trước mắt đề nghị, kiến nghị áp dụng cho khách hàng lớn, khách hàng sản xuất công nghiệp, chứ trước mắt chưa áp dụng đối với khách hàng sinh hoạt.

Đối với khách hàng sinh hoạt, hiện nay Bộ Công Thương cũng đang trình, báo cáo Chính phủ để Chính phủ thông qua chủ trương sửa đổi Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.

Trong đó, hiện nay có 6 bậc thang giá bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện sinh hoạt. Đối với khách hàng sử dụng điện bán lẻ có các bậc khác nhau, nên giá điện tăng theo bậc thang và càng ở bậc thang sau giá càng cao, chứ chưa phụ thuộc vào giờ cao điểm, thấp điểm

Hiện nay, Cục Điện lực đang phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và 5 tổng công ty phân phối điện, 5 tổng công ty điện lực để hoàn thiện các nội dung sửa đổi. Trong đó, Bộ Công Thương đã có văn bản đề nghị 34 tỉnh, thành phố cung cấp các số liệu liên quan để sửa đổi đồng bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận sửa đổi Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục thông tin với báo chí.

III. Nhóm vấn đề liên quan đến lĩnh vực công nghiệp

1. Nhà báo Nguyên Long – Đài Tiếng nói Việt Nam:

Câu hỏi: Phát biểu Khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% đòi hỏi phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyết tâm hành động.

Dưới góc độ quản lý nhà nước ngành Công Thương, từ thực tế tăng trưởng xuất nhập khẩu 9 tháng qua, xin được hỏi: Giải pháp của ngành Công Thương trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, phát triển công nghiệp để qua đó nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế đất nước theo yêu cầu của Tổng Bí thư?

Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân thông tin về kết quả chung của sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026.

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp trả lời:

Thực hiện yêu cầu của đồng chí Tổng Bí thư về nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, ngành Công Thương xác định: tự chủ không phải là tự sản xuất tất cả, mà là làm chủ có chọn lọc những khâu quyết định giá trị gia tăng cao và bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng.

Hiện nay công nghiệp tăng trưởng nhanh, nhưng gần một nửa giá trị hàng xuất khẩu vẫn là giá trị gia tăng nước ngoài. Tỷ lệ nội địa hoá của cơ khí chế tạo mới 25–30%, ô tô con 15–20%. Nếu không thay đổi, càng tăng trưởng chúng ta càng nhập khẩu nhiều.

Chúng tôi tập trung vào ba việc lớn.

Một là tạo thị trường: dùng các dự án hạ tầng chiến lược như đường sắt, điện, điện gió ngoài khơi và mua sắm công để đặt hàng doanh nghiệp trong nước.

Hai là chuyển từ thu hút sang hấp thụ FDI: ưu đãi gắn với chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và phát triển nhà cung ứng Việt Nam.

Ba là nâng cấp doanh nghiệp Việt theo chuỗi, qua Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ 2026–2035, với hỗ trợ về công nghệ, vốn dài hạn, nhân lực và trung tâm kỹ thuật dùng chung.

Mục tiêu đến năm 2030 là các ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hoá bình quân 40–45%. Thước đo cuối cùng là trong mỗi 100 đồng giá trị công nghiệp tăng thêm, bao nhiêu đồng do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra và giữ lại.

Câu 2: Cụ thể với ngành công nghiệp vật liệu, Ngành Công Thương tập trung vào các đột phá nào để triển khai Kết luận 83 của Trung ương?

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp trả lời:

Kết luận số 83-KL/TW ngày 08/5/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu đã đưa ngành công nghiệp vật liệu  không còn là một ngành công nghiệp sản xuất đầu vào, mà trở thành một nền tảng của năng lực tự chủ công nghiệp. Kết luận đã đặt yêu cầu rất rõ: phát triển công nghiệp vật liệu phải có trọng tâm, trọng điểm, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ và từng bước làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị. Kết luận cũng đã giao Bộ Công Thương xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Từ góc độ quản lý nhà nước của ngành Công Thương, chúng tôi xác định ba đột phá lớn trong Chiến lược cũng như trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp vật liệu trong thời gian tới:

Đột phá thứ nhất là lựa chọn đúng trọng tâm phát triển và tổ chức, xây dựng chính sách công nghiệp vật liệu theo hướng tập trung, không dàn trải. Xác định rõ những nhóm, chuỗi và sản phẩm có ý nghĩa trực tiếp đối với năng lực sản xuất công nghiệp, khả năng tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đột phá thứ hai là phát triển theo chuỗi giá trị công nghiệp vật liệu, đồng bộ từ thượng nguồn (khai thác, tuyển, sơ chế) đến trung nguồn (luyện, vật liệu cơ bản) đến hạ nguồn (vật liệu tiên tiến, sản phẩm vật liệu công nghệ cao,…) gắn với chuỗi giá trị khoáng sản chiến lược quan trọng, khoáng sản chiến lược đặc biệt.

Đột phá thứ ba là tổ chức phát triển 03 nhóm vật liệu (vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai) theo đặc thù lĩnh vực hoạt động và chuyển mạnh từ định hướng chính sách sang năng lực công nghiệp thực tế. Giữ vững, nâng cấp năng lực và đẩy mạnh xanh hóa trong sản xuất các vật liệu cơ bản có quy mô sản xuất lớn, giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh tinh chế, tinh luyện sâu kim loại. Phát triển các vật liệu kỹ thuật chất lượng cao. Từng bước đưa một số vật liệu chiến lược, vật liệu tiên tiến, vật liệu tương lai vào sản xuất ổn định ở quy mô công nghiệp.

Câu hỏi: Cũng từ kết quả tăng trưởng GDP 9 tháng, sản xuất công nghiệp đã tăng tại tất cả 34/34 địa phương, nhưng biên độ dao động rất rộng (từ 0,2% đến hơn 40%). Và, theo mục tiêu đặt ra, để đóng góp vào tăng trưởng GDP 2 con số thì công nghiệp phải tăng từ 12-14%, nhưng qua 9 tháng mới có 19/34 địa phương tăng từ 12% trở lên (còn 15 địa phương chưa đạt mục tiêu). Điều này ảnh hưởng thế nào tới mức tăng chung và ngành Công Thương có giải pháp mạnh nào để “thúc” tăng trưởng công nghiệp ở các các địa phương còn chưa đạt này?

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp trả lời:

Đầu tiên cần nhìn nhận, kết quả chung của sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 rất tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cả nước tăng 12,3%, là mức tăng 9 tháng cao nhất trong 10 năm trở lại đây; đà tăng mạnh dần lên, quý sau cao hơn quý trước (quý II tăng 11,2%, quý III tăng 14,8%) ; 34/34 địa phương đều tăng trưởng dương. Vì vậy, nhóm địa phương chưa đạt mục tiêu tăng trưởng về công nghiệp chưa kéo mức tăng chung xuống dưới các chỉ tiêu mà Chính phủ đề ra.

Sự phân hóa giữa các địa phương chủ yếu do khác biệt về cơ cấu ngành và năng lực sản xuất mới. Các địa phương tăng cao phần lớn là nơi có dự án lớn mới đi vào vận hành hoặc nâng công suất – đặc biệt là các dự án trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Trong khi đó, ở nhóm chưa đạt mục tiêu: (i) một số địa phương có tỷ trọng lớn của khai khoáng, thủy điện – các ngành phụ thuộc trữ lượng, điều kiện thủy văn và cấp phép khai thác – nên sản lượng tăng thấp; (ii) một số địa phương tập trung các ngành xuất khẩu thâm dụng lao động đang chịu sức ép từ các rào cản thương mại mới và chi phí logistics quốc tế tăng cao; (iii) một số trung tâm công nghiệp lớn đã sẵn có quy mô nền cao, đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nên tốc độ tăng chưa thể có đột phá ngay.

Bên cạnh đó, ở một số địa phương còn gặp khó khăn trong việc bố trí quỹ đất, mặt bằng và thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc đưa các dự án mới hoặc mở rộng tăng công suất vào vận hành còn chậm.

Trong thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã tổ chức nhiều đoàn làm việc với các địa phương để thúc đẩy phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại trên địa bàn các địa phương đó. Kết quả từ các hoạt động này đã góp phần không nhỏ trong việc định hướng tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho phát triển công nghiệp nói riêng cũng như ngành Công Thương nói chung tại nhiều địa phương trọng điểm.

Trong thời gian tới, cùng với các chương trình làm việc với địa phương của Bộ Công Thương, Cục Công nghiệp sẽ tiếp tục đề xuất các giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp trong Quý IV và các tháng còn lại của năm 2026. Trong đó, tập trung vào việc hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương trong việc đẩy mạnh quy hoạch, xây dựng, bàn giao hạ tầng khu, cụm công nghiệp để bảo đảm quỹ đất và mặt bằng phục vụ sản xuất; thúc đẩy phát triển một số ngành có dư địa tăng trưởng tốt trong dịp cuối năm; kích cầu tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp trong nước; và đặc biệt là đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào vận hành tại các địa phương – tập trung vào các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo quan trọng có khả năng đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn.

2. Nhà báo Dương Hưng – Báo Tiền Phong

Câu hỏi: Xin Bộ Công Thương thông tin cụ thể hơn về quy chuẩn trụ sạc, trạm sạc xe điện. Vì sao không đưa nội dung này vào công trình xây dựng?

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp trả lời:

Tại Thông tư số 61/2026/TT-BCT, Bộ Công Thương đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện. Quy chuẩn hướng đến 5 mục tiêu chính: an toàn, tương thích, minh bạch cho người sử dụng và bảo vệ hệ thống điện, đồng thời hướng tới mục tiêu xa hơn là xây dựng một hệ thống sạc thông minh. Trong đó, mục tiêu an toàn được ưu tiên, gồm an toàn về phòng cháy, chữa cháy; an toàn về điện; an toàn cho người dùng và an toàn cho phương tiện.

Tiếp đó đến tính tương thích, các trạm sạc sẽ được quy định các tiêu chuẩn để hướng tới một hệ thống thống nhất. Quy chuẩn này cũng định hướng các hãng xe, trong đó có các hãng xe nước ngoài, phải đáp ứng một quy chuẩn nhất định.

Liên quan đến câu hỏi tại sao không đưa trạm sạc vào trong các công trình xây dựng, trong quá trình xây dựng quy chuẩn, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan, trong đó có Bộ Xây dựng. Với Bộ Công Thương, các quy chuẩn tập trung vào trụ sạc. Trụ sạc là một bộ phận cấu thành của trạm sạc. Tất cả các trụ sạc trong công trình xây dựng bắt buộc phải tuân theo một quy chuẩn thống nhất.

Chính vì vậy, khi trạm sạc được đặt trong các công trình xây dựng thì còn liên quan đến pháp luật về công trình xây dựng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy... Vì vậy, Bộ Công Thương phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi bộ, ngành liên quan trong quản lý và vận hành trạm sạc.

IV. Nhóm vấn đề liên quan đến phát triển thương mại điện tử; xuất nhập khẩu; đàm phán Hiệp định thương mại tự do

1. Nhà báo Hải Yến - Báo Tài chính - Đầu tư

Câu hỏi: Nhập siêu của chúng ta sau 9 tháng đã tăng lên gần 20 tỷ USD. Mặc dù trong tháng 9 đã có một tín hiệu tích cực là chúng ta đã quay trở lại xuất siêu. Trong cuộc họp mới nhất, Bộ trưởng Bộ Công Thương có nêu một tham vọng là làm thế nào trong những tháng cuối quý IV, chúng ta sẽ đưa con số nhập siêu xuống còn khoảng 10 tỷ USD. Vậy đây có phải là con số hiện thực không? Giải pháp để đạt được mục tiêu này là gì?

 

Bà Trịnh Thị Thu Hiền - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời:

Liên quan đến nội dung về vấn đề nhập siêu, chúng tôi xin chia sẻ một số thông tin như sau.

Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15-16%. Nếu không có diễn biến tác động tiêu cực mạnh, xuất khẩu sẽ đạt chỉ tiêu cả năm.

Với số liệu thống kê sau 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888 tỷ USD, cán cân thương mại 9 tháng nhập siêu giảm xuống 19,4 tỷ USD, xuất siêu tháng 9 là 1,27 tỷ USD và thời điểm cuối năm mới là mùa vụ của xuất khẩu. Theo đó, chúng ta có căn cứ để kỳ vọng con số nhập siêu trong những tháng cuối năm và cả năm 2026 có thể giảm xuống dưới 10 tỷ USD.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, xu hướng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại và cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu đồng thời kiểm soát nhập siêu ở mức hợp lý vẫn là nhiệm vụ cần được theo dõi, điều hành sát sao.

Thực hiện Thông báo số 443/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 20/8/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, Thông báo số 481/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 14/9/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại buổi làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam và một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử bán dẫn, Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, chủ động điều hành nhập khẩu theo hướng hiệu quả và bền vững, bám sát các nhiệm vụ tại Thông báo số 443/TB-VPCP và Thông báo số 481/TB-VPCP.

Thứ hai, tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng xuất khẩu thông qua khai thác các FTA hiện có và đàm phán FTA mới nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu.

Thứ ba, tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh, cung cấp thông tin quy định của thị trường nhập khẩu, cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ tư, về dài hạn, Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện thể chế và phát triển năng lực sản xuất trong nước, nâng cao khả năng tự chủ về nguyên liệu đầu vào.

Để hướng tới cán cân thương mại cân bằng, bền vững trong dài hạn, điều quan trọng là nâng cao năng lực sản xuất trong nước, nâng cao giá trị gia tăng, xuất khẩu theo hướng bền vững.

Câu 2: Đối với ngành điện tử, quy mô xuất nhập khẩu trong 9 tháng đã lên đến 372 tỷ USD, chiếm khoảng 42% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Trong cuộc họp tháng 9 với Phó Thủ tướng Thường trực, Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Công Thương làm việc với một số doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI. Bộ Công Thương có thể thông tin thêm về việc triển khai nội dung này không ạ?

 

Bà Trịnh Thị Thu Hiền - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời:

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương làm việc với doanh nghiệp có chênh lệch lớn giữa kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu, nhất là doanh nghiệp nhập siêu lớn, bao gồm 15 doanh nghiệp có quy mô xuất nhập khẩu lớn trong ngành điện tử, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Sau quá trình làm việc, Bộ Công Thương nhận thấy một số nhóm nguyên nhân khiến nhập khẩu ngành hàng này tăng cao, điển hình như sau

Thứ nhất, giá nguyên liệu tăng đột biến: Giá hợp đồng một số dòng bộ nhớ cao cấp dùng trên thiết bị điện thoại di động và máy tính bảng cao cấp đã tăng hơn 300% - 500% so với cùng kỳ năm trước do tình trạng khan hiếm chip nhớ dành cho thiết bị di động diễn ra trên toàn cầu vì làn sóng hạ tầng trí tuệ nhân tạo. Lượng nhập khẩu có thể không tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng trị giá tăng 300% nên số liệu nhập khẩu thể hiện trị giá lớn.

Thứ hai, doanh nghiệp tăng tồn kho để dự phòng sản xuất: Doanh nghiệp tăng tồn kho (một số nhà máy tăng từ 3-6 tuần lên khoảng 12 tuần, từ 100 triệu lên 700 triệu USD) do giá nhập khẩu nguyên liệu ngành điện tử tăng cao liên tục; một số mặt hàng liên quan đến chính sách kiểm soát của quốc gia xuất khẩu nên cần dự phòng.

Thứ ba, doanh nghiệp mở rộng nhà máy, nâng cao công suất tại Việt Nam: Một số dự án đầu tư mở rộng, dịch chuyển công nghệ trong lĩnh vực này đã được thực hiện. Nhiều dự án đầu tư mới, trong đó có nhiều dự án về kiểm thử chip, dự án về AI. VD: Samsung tái đầu tư nhà máy mới tại Thái Nguyên quy mô ban đầu 1,5 tỷ USD; Intel chuyển dây chuyền chip từ Costa Rica về Việt Nam, Nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tăng đầu tư tại tỉnh Phú Thọ, LG, Quanta, Foxconn cũng tăng vốn đầu tư ...

Số liệu cho thấy những nhóm hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu ở các nhóm hàng đầu vào thiết yếu và tư liệu sản xuất, phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, gia tăng đầu tư và chuẩn bị năng lực cho tăng trưởng trong thời gian tới, không phải sự gia tăng nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu.

Như vậy, giá trị nguyên liệu đầu vào tăng cao, tăng tích lũy tồn kho và mở rộng sản xuất là một số yếu tố góp phần khiến giá trị nhập khẩu trong giai đoạn vừa qua tăng cao.

2. Nhà báo Ngô Cường - Báo Lao Động

Câu hỏi: Báo Lao Động vừa thực hiện loạt bài phản ánh một số sản phẩm bán trên các nền tảng thương mại điện tử như TikTok Shop và Shopee chưa được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam, trong đó có một số sản phẩm có yếu tố nước ngoài. Đơn cử, hơn 95.000 sản phẩm Mixsoon vừa bị cơ quan chức năng thu giữ do có dấu hiệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa được bảo hộ tại thị trường Việt Nam. 

Các sản phẩm này được nhiều KOC quảng cáo, livestream trên TikTok Shop và Shopee. Theo ghi nhận của Báo Lao Động từ Bộ Y tế, các sản phẩm này chưa được công bố chất lượng và chưa đủ điều kiện lưu thông trên thị trường Việt Nam. 

Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cũng chưa tiếp nhận hồ sơ của doanh nghiệp liên quan đến những sản phẩm này. Bộ Công Thương đánh giá như thế nào về trách nhiệm của KOL, KOC khi livestream, chốt đơn những sản phẩm chưa đủ điều kiện lưu thông trên thị trường Việt Nam? Trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử ra sao đối với cơ chế hậu kiểm?

Bà Lại Việt Anh - Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử trả lời:

Trong thời gian qua, việc bán mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, các sản phẩm liên quan đến thuốc trên môi trường điện tử, đặc biệt qua hình thức livestream, diễn ra rầm rộ và đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về khách quan, hoạt động livestream có đặc thù liên quan đến nhiều bên, gồm người bán, người thực hiện livestream và các nền tảng. Người livestream có thể thay đổi địa điểm rất nhanh chóng, trong khi nguồn hàng có thể tách rời khỏi địa điểm livestream, gây khó khăn cho việc xác minh nguồn hàng cũng như truy vết giao dịch.

Về nguyên nhân chủ quan, khung pháp lý đối với hoạt động kinh doanh mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm chức năng còn một số nội dung còn cần tiếp tục được hoàn thiện để theo kịp thực tiễn. Quy định hiện hành của Luật Dược (sửa đổi, bổ sung năm 2024) có quy định một số giới hạn đối với phương thức kinh doanh thuốc nhưng chưa điều chỉnh cụ thể vấn đề livestream đối với các sản phẩm liên quan.

Trước thực tiễn đó, Bộ Công Thương đã triển khai các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử.

Thứ nhất, Luật Thương mại điện tử năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, lần đầu tiên có những quy định riêng về hoạt động livestream bán hàng. Trước đây, các quy định chủ yếu điều chỉnh hoạt động bán hàng thông qua các gian hàng cố định trên nền tảng thương mại điện tử - nơi việc lưu vết thông tin tương đối dễ dàng. Trong khi đó, đối với hoạt động livestream bán hàng, việc lưu trữ thông tin, chứng cứ cũng như truy vết giao dịch gặp nhiều khó khăn và trước đây chưa có quy định điều chỉnh. Luật Thương mại điện tử lần đầu tiên đã có quy định về vấn đề này.

Một nội dung mấu chốt là quy định xác thực điện tử danh tính của người livestream trên các nền tảng. Chúng tôi kỳ vọng đây sẽ là một trong những biện pháp giúp minh bạch thông tin và tạo điều kiện để tăng cường quản lý đối với hoạt động này, hướng tới bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng trong tương lai.

Theo quy định của Luật và Nghị định thương mại điện tử có hiệu lực cùng ngày 1/7/2026, nền tảng phải xác thực điện tử danh tính của người livestream trước khi phát sóng; dừng phát và gỡ bỏ nội dung vi phạm; lưu trữ dữ liệu livestream tối thiểu 1 năm. Người bán và người livestream có trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực về hàng hóa. Nghị định 248 năm 2026 quy định trách nhiệm gỡ bỏ nội dung vi phạm trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước.

Từ đầu năm 2026 đến nay, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương đã yêu cầu các nền tảng thương mại điện tử tăng cường rà soát, hoàn thiện quy trình và biện pháp kiểm duyệt đối với người bán và sản phẩm, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện; đặc biệt là các sản phẩm như dược phẩm, thực phẩm chức năng, rượu bia, thuốc lá điếu qua thương mại điện tử và các sản phẩm có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Cục đã phối hợp với các nền tảng rà soát, gỡ bỏ 116.000 sản phẩm, xử lý hơn 51.000 gian hàng trên các nền tảng thương mại điện tử và tiếp nhận hơn 200 lượt phản ánh qua hotline và thư điện tử.

Thời gian tới, Cục TMĐT sẽ tiếp tục tập trung vào ba nhóm giải pháp. Thứ nhất, nâng cao trách nhiệm của các nền tảng trong việc xác thực người bán, kiểm soát hàng hóa và kịp thời xử lý vi phạm theo quy định của Luật.

Thứ hai, tăng cường phối hợp với Bộ Y tế và các cơ quan chức năng trong việc giám sát, xác minh và xử lý các hành vi kinh doanh, quảng cáo thuốc trái quy định.

Thứ ba, tiến tới hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm nhằm đáp ứng quy định mới của Luật Thương mại điện tử.

Trong thời gian tới, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự phối hợp của các phóng viên và cơ quan báo chí trong việc phát hiện, phản ánh kịp thời các hành vi vi phạm, qua đó giúp cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các nền tảng có phản ứng kịp thời nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp  luật,  bảo vệ tốt quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số.

3. Nhà báo Minh Tuấn - Tạp chí Nhà đầu tư

Câu hỏi: Bộ Công Thương có thể thông tin mới nhất về tiến trình đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng cân bằng và công bằng giữa Việt Nam - Hoa Kỳ? Những tác động của hiệp định đối với thương mại hai nước?

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên trả lời:

Từ tháng 4/2025 đến nay, hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ đã trải qua 7 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán ở cả cấp Bộ trưởng và cấp kỹ thuật.

Cho đến nay, hai bên cơ bản đã hoàn tất gần như toàn bộ các nội dung đàm phán, chỉ còn một số ít vấn đề cần trao đổi, làm rõ thêm về kỹ thuật, hướng tới hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán.

Ông Ngô Chung Khanh cho biết, Bộ Công Thương kỳ vọng với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan liên quan của Hoa Kỳ, đặc biệt là Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, hai bên sẽ sớm hoàn thiện toàn bộ các nội dung đàm phán để có thể tiến tới ký kết và đưa vào thực hiện trong thời gian sớm nhất.

Liên quan đến những tác động đến thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ sau khi hiệp định được ký kết, ông Ngô Chung Khanh cho hay, Hoa Kỳ là một đối tác thương mại lớn của Việt Nam, có tầm quan trọng hàng đầu đối với hoạt động xuất khẩu, vì vậy, việc hai nước đạt được một hiệp định thương mại sẽ góp phần bảo đảm một khuôn khổ thương mại ổn định, cân bằng, hướng tới sự phát triển bền vững và mở ra cơ hội hợp tác mạnh mẽ hơn nữa giữa hai nước.

V. Nhóm vấn đề về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp

Nhà báo Hoàng Hưng - Báo Thanh Tra

Câu hỏi: Thanh tra Chính phủ mới đây đã có kết luận chuyên đề về các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp của Bộ Công Thương. Tại kết luận này, Thanh tra Chính phủ chỉ rõ, trong giai đoạn sắp xếp bộ máy từ ngày 1/3/2015 đến ngày 30/4/2026, Bộ Công Thương còn 139 cơ sở nhà, đất, trong đó có 8 cơ sở được xác định là dôi dư và đang xây dựng phương án xử lý. Đề nghị Bộ Công Thương cho biết, đến thời điểm hiện tại, sau khi có kết luận thanh tra, các cơ sở nhà, đất này đã được Bộ triển khai xử lý đến đâu, kết quả cụ thể và lộ trình hoàn thiện trong thời gian tới?

Câu hỏi: Liên quan đến công tác tiếp công dân tại Bộ và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị lãnh đạo Bộ cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, kết quả thực hiện trách nhiệm tiếp công dân định kỳ của lãnh đạo Bộ Công Thương và tỷ lệ giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền đạt kết quả cụ thể ra sao? Những vụ việc nào đang phát sinh đơn thư phức tạp nhất và Bộ Công Thương có những giải pháp căn cơ nào để xử lý dứt điểm?

Ông Nguyễn Thành Nam - Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương trả lời:

Liên quan đến hai câu hỏi của Nhà báo Hoàng Hưng - Báo Thanh tra, Phó Chánh Văn phòng Nguyễn Thành Nam trả lời như sau:

Về việc xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp của Bộ Công Thương, sau kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành kế hoạch triển khai, đồng thời phân công cụ thể trách nhiệm cho các đơn vị liên quan để khắc phục các tồn tại và thực hiện sắp xếp, xử lý cơ sở nhà, đất theo đúng quy định.

Đối với 8 cơ sở nhà, đất dôi dư, Bộ Công Thương đã thực hiện bàn giao cơ sở số 132 Nguyễn Chí Thanh, thành phố Đà Nẵng cho Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Đối với 7 cơ sở còn lại, Bộ đã có công văn, văn bản gửi các địa phương liên quan và hiện đang tiếp tục phối hợp với các địa phương, cơ quan liên quan để hoàn thiện thủ tục xử lý theo đúng quy định.

Về tiến độ, Bộ Công Thương phấn đấu mục tiêu hoàn thành trong năm 2026, bảo đảm đúng quy định và sử dụng có hiệu quả nhất tài sản công.

Về câu hỏi liên quan đến công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trong 9 tháng đầu năm 2026 của Bộ Công Thương: Công tác tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo luôn được Lãnh đạo Bộ Công Thương quan tâm, chỉ đạo nghiêm túc theo đúng quy định.

Sau khi Thanh tra Bộ chuyển về Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Bộ được giao tham mưu và thực hiện nhiệm vụ thường trực tiếp công dân. Bộ đã ban hành Quy chế tiếp công dân năm 2026 và hiện đang duy trì Phòng Tiếp công dân tại trụ sở Bộ, số 54 Hai Bà Trưng. Bộ cũng đang chuẩn bị các điều kiện để triển khai tiếp công dân theo hình thức trực tuyến theo quy định mới.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, Bộ Công Thương đã tiếp 34 lượt công dân với 59 người liên quan đến 16 vụ việc. Các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ đền bù, giải phóng mặt bằng đến công trình điện gió.

Đối với những vụ việc không thuộc thẩm quyền, Bộ đã chuyển đến các cơ quan liên quan xử lý. Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền, Bộ đã ghi nhận và xử lý theo đúng thẩm quyền.

Đối với đơn thư, các vụ việc thuộc thẩm quyền đều được xác minh, ban hành kết luận. Các phản ánh, kiến nghị đủ điều kiện thụ lý đang được xử lý theo đúng quy định.

Đối với các đơn thư, vụ việc không thuộc thẩm quyền, Bộ đã phân loại, hướng dẫn và chuyển đến các cơ quan giải quyết theo đúng thẩm quyền./.

 

 


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website