A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường hỗ trợ, phát triển thị trường bền vững cho sản phẩm công nghiệp nông thôn

Chính sách khuyến công đang chuyển từ hỗ trợ phát triển sản xuất đơn thuần sang thúc đẩy mô hình sản xuất xanh, hiệu quả và bền vững hơn. Theo các chuyên gia, đối với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn, “xanh” không chỉ là câu chuyện môi trường mà ngày càng gắn với tiêu chuẩn thị trường, yêu cầu của nhà mua hàng, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm

Nhiều điểm mới về chính sách khuyến công tại Nghị định số 235/2025/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến mang tính nền tảng đối với phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn. 

Trong đó, việc thúc đẩy phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn thông qua hỗ trợ tổ chức, tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu các cấp; hỗ trợ tổ chức hội chợ, triển lãm sản phẩm công nghiệp nông thôn, sản phẩm thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ tham gia các hội chợ, triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài nước; hỗ trợ tổ chức thi thợ giỏi nghề thủ công mỹ nghệ, thi thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu; hỗ trợ đầu tư phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm... được đánh giá rất tích cực.

 Các cơ sở công nghiệp nông thôn được hỗ trợ tập huấn nâng cao hiệu quả phát triển thị trường cho sản phẩm.

Chia sẻ về định hướng phát triển công sản phẩm công nghiệp nông thôn theo Nghị định số 235/2025/NĐ-CP, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam mong muốn Nghị định sẽ tạo nguồn lực khuyến công phải đến đúng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cơ sở công nghiệp nông thôn có nhu cầu đổi mới nhưng năng lực tự đầu tư còn hạn chế; từ đó tạo thay đổi cụ thể về năng suất, chất lượng, chi phí và thị trường. 

Trong đó, việc mở rộng theo hướng hỗ trợ “đi đến cùng”, từ quảng bá, xúc tiến thương mại đến đăng ký nhãn hiệu, thiết kế sản phẩm được xem là nội dung hết sức quan trọng. Bởi, điểm yếu của nhiều cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực nông thông không chỉ ở sản xuất mà còn ở thương hiệu, bao bì, bảo hộ nhãn hiệu, thiết kế và phân phối. Vì vậy, hỗ trợ sau công nhận nên đi theo nhu cầu của từng sản phẩm và coi quảng bá, thiết kế, bảo hộ nhãn hiệu, xúc tiến thương mại, kết nối nhà phân phối và thương mại điện tử là một chuỗi.

Tuy nhiên, để phát triển thương hiệu, thị trường một cách bền vững đang đặt ra không ít thách thức đối với sản phẩm công nghiệp nông thôn. Bởi, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, thị trương cầu ngày càng cao, sản phẩm công nghiệp nông thôn không chỉ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã, bao bì và truy xuất nguồn gốc, mà còn đứng trước những yêu cầu mới liên quan đến sản xuất bền vững, tiêu chuẩn ESG, giảm phát thải, đánh giá vòng đời sản phẩm và minh bạch dấu chân carbon. Trong khi đó, nhiều cơ sở công nghiệp nông thôn còn hạn chế về năng lực chuyên môn, nguồn lực đầu tư cho các yêu cầu mới, cũng như năng lực xây dựng thương hiệu, bảo hộ nhãn hiệu, thiết kế sản phẩm, tổ chức sản xuất và đáp ứng quy mô, tiêu chuẩn của các nhà mua hàng. 

Có thể thấy, những rào cản đặt ra yêu cầu phải tăng cường hỗ trợ từ khâu chuẩn hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ đến xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và kết nối thị trường, để sản phẩm không chỉ được công nhận mà còn có khả năng thương mại hóa và mở rộng thị trường. 

Từ thực tiễn này, Nghị định số 235/2025/NĐ-CP cũng lần đầu đưa sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững. Theo TS. Tô Hoài Nam, đây là một điểm mới rất đáng chú ý, cho thấy chính sách khuyến công đang chuyển từ hỗ trợ phát triển sản xuất đơn thuần sang thúc đẩy mô hình sản xuất xanh, hiệu quả và bền vững hơn. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn, “xanh” không chỉ là câu chuyện môi trường mà ngày càng gắn với tiêu chuẩn thị trường, yêu cầu của nhà mua hàng, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Xhuyên gia ESG Trần Xuân Quỳnh cũng cho hay, Nghị định 235/2025/NĐ-CP mang đến cơ hội toàn diện để các sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu bứt phá khỏi ranh giới “đặc sản địa phương” và thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy vậy, để vượt qua các rào cản xanh ngày càng khắt khe, cần dịch chuyển chiến lược từ “tôn vinh sản phẩm truyền thống” sang “ươm tạo hàng hóa xanh chiến lược” thông qua 4 định hướng cốt lõi.

Thứ nhất, là tích hợp tiêu chuẩn ESG và kiểm kê khí nhà kính. Theo đó, cần thiết kế lại hệ thống tiêu chí bình chọn để bao hàm các chỉ số môi trường, định hướng cơ sở thiết lập hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) nhằm minh bạch dấu chân carbon của sản phẩm. Thứ hai, là thiết kế sinh thái theo đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA). Khâu thiết kế bao bì cần được nâng cấp bằng việc sử dụng vật liệu sinh học và tối ưu hóa nguyên liệu theo hướng kinh tế tuần hoàn, bảo đảm tiêu chí giảm phát thải từ khâu khai thác đến thải bỏ.

Thứ ba, là số hóa chuỗi cung ứng và định vị Net Zero. Công nghệ số được tận dụng để xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, biến mã QR trên sản phẩm thành “hộ chiếu xanh” chứng nhận quy trình sản xuất phát thải thấp. Thứ tư, là chuyển dịch sang tư vấn quản trị xanh. Nội dung bồi dưỡng được mở rộng từ kỹ năng nghề thuần túy sang nâng cao năng lực quản trị cho chủ cơ sở về lộ trình Net Zero, chứng chỉ carbon và luật bảo vệ môi trường.

Gắn xúc tiến với nâng cao năng lực quản trị

Từ hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại trong hoạt động khuyến công, chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thuỷ cho rằng, một chương trình xúc tiến thương mại không nên chỉ tính bao nhiêu doanh nghiệp tham gia, bao nhiêu gian hàng được trưng bày hay bao nhiêu lượt người đến tham quan. Những con số đó cần thiết nhưng chưa nói lên hiệu quả cuối cùng. Nói cách khác, gian hàng chỉ là điểm xuất phát; đơn hàng mới là điểm đến. 

Từ cách tiếp cận này, khuyến công được khuyến nghị cần gắn chặt hơn với xúc tiến thương mại, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và nâng cao năng lực quản trị. Theo đó, không thể hỗ trợ doanh nghiệp mua máy móc nhưng lại để doanh nghiệp tự lo đầu ra. Nhưng cũng không thể đưa một cơ sở sản xuất nhỏ đi gặp những nhà mua hàng lớn khi chưa chuẩn bị được năng lực đáp ứng.

Do đó, khuyến nghị từ chuyên gia cho rằng, cần hình thành một chuỗi hỗ trợ liền mạch gồm sản xuất, chuẩn hóa, nâng chất lượng, xây dựng thương hiệu, tìm thị trường, kết nối nhà mua hàng và duy trì đơn hàng. Cách tiếp cận này đặt hoạt động xúc tiến thương mại trong mối liên hệ trực tiếp với năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng thị trường của cơ sở công nghiệp nông thôn. Khi sản phẩm được chuẩn hóa, chất lượng được nâng lên, thương hiệu và bao bì được quan tâm, đồng thời có khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà mua hàng, hoạt động kết nối thị trường mới có điều kiện tiếp tục phát huy vai trò.

Đối với những cơ sở nhỏ, chuyên gia nông nghiệp, Hoàng Trọng Thuỷ nhấn mạnh, liên kết chính là cách tạo ra quy mô. Liên kết vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất và liên kết tiêu thụ sẽ giúp các cơ sở vượt qua điểm yếu lớn nhất là quy mô nhỏ và năng lực cung ứng hạn chế. Theo đó, cần thay đổi tư duy từ đưa sản phẩm đi xúc tiến sang “đưa thị trường về cùng tổ chức lại sản xuất”. Khi nhà mua hàng nói họ cần sản phẩm gì, tiêu chuẩn nào, số lượng bao nhiêu, giao hàng ra sao, đó chính là những tín hiệu để doanh nghiệp và cơ sở sản xuất điều chỉnh lại sản phẩm và cách tổ chức sản xuất.

Như vậy, từ những nội dung được đặt ra trong chính sách khuyến công và các ý kiến chuyên gia, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm công nghiệp nông thôn không chỉ dừng ở việc quảng bá, trưng bày hay tham gia các sự kiện kết nối. Hỗ trợ sau công nhận được đặt trong một chuỗi từ phát triển sản phẩm, chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, bảo hộ nhãn hiệu, quảng bá, kết nối nhà phân phối đến thương mại điện tử và mở rộng thị trường. Mặt khác, việc đánh giá hiệu quả hỗ trợ được đặt vào những kết quả cụ thể hơn như hợp đồng, điểm bán, thị trường mới hoặc doanh thu, cũng như xúc tiến thị trường với đổi mới công nghệ và năng lực quản trị. 

Theo Nghị định số 235/2025/NĐ-CP, sản xuất và tiêu dùng bền vững là việc áp dụng các giải pháp theo hướng tiếp cận vòng đời sản phẩm, đẩy mạnh liên kết trong các khẩu từ khai thác tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu đến thiết kế, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và thải bỏ; chú trọng sửa chữa, bảo dưỡng và bảo trì, tái sử dụng và tái chế trong các công đoạn của vòng đời sản phẩm; coi trọng đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường, cải tiến thiết bị, quy trình quản lý nhằm thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vũng.

 


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website