Điện Biên: Mở rộng đầu ra cho nông sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Sản phẩm của bà con dân tộc thiểu số đã và đang được chính quyền tỉnh Điện Biên và các doanh nghiệp, hợp tác xã tích cực thúc đẩy mở rộng thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hóa kênh tiêu thụ và thu hút đầu tư vào chế biến sâu.
Hình thành chuỗi giá trị nông sản
Ở Mường Ảng, cây cà phê không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn gắn với sinh kế của nhiều hộ dân, trong đó có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Việc kết nối người trồng với doanh nghiệp thu mua, cơ sở chế biến đang góp phần tạo đầu ra và nâng giá trị sản phẩm.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Tô Trọng Thiện, Bí thư Đảng ủy xã Mường Ảng, cho biết, toàn xã hiện có 2.113 ha cà phê, trong đó 1.813 ha đang cho thu hoạch. Công ty TNHH Xuất nhập khẩu cà phê Việt Bắc đang thu mua nguyên liệu từ vùng cà phê có diện tích 1.660 ha của xã. Hoạt động thu mua với sản lượng lớn giúp người dân có đầu ra, nhất là trong thời điểm cao điểm thu hoạch.

Cà phê Mường Ảng - loại đặc sản mang lại thu nhập cao cho bà con dân tộc thiểu số tại địa phương
Bên cạnh thu mua nguyên liệu, Công ty TNHH Hải An và cơ sở sản xuất, chế biến cà phê Hà Chung đang góp phần nâng giá trị cà phê Mường Ảng thông qua phát triển các sản phẩm chế biến. Từ nguồn nguyên liệu Arabica tại địa phương, các đơn vị đưa ra thị trường nhiều dòng sản phẩm như cà phê hạt, cà phê pha phin, cà phê túi lọc, cà phê muối.
Hiện xã có sản lượng quả cà phê tươi bình quân khoảng 17.000 tấn/năm; sản lượng cà phê trấu năm 2025 ước đạt 3.300 tấn. Với quy mô vùng nguyên liệu này, duy trì liên kết giữa người trồng và doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để phát triển chế biến, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường.
Không chỉ với cây cà phê, mô hình phát triển vú sữa Hoàng Kim của Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Mường Khoe Xanh cũng cho thấy vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã trong tìm kiếm cây trồng mới, tổ chức sản xuất và kết nối tiêu thụ.
Năm 2017, sau quá trình tìm hiểu, khảo nghiệm, ông Nguyễn Huy Đức, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Mường Khoe Xanh, quyết định đưa giống vú sữa Hoàng Kim nhập khẩu từ Đài Loan (Trung Quốc) về trồng thử nghiệm.
Từ những cây trồng ban đầu, hợp tác xã từng bước mở rộng diện tích. Đến nay, đơn vị đã phát triển hơn 30 ha vú sữa Hoàng Kim, với khoảng 8.000 cây đang cho thu hoạch, sản lượng bình quân đạt khoảng 20 tấn/ha.
Để nâng chất lượng sản phẩm, hợp tác xã canh tác theo hướng hữu cơ, chủ yếu sử dụng phân chuồng ủ và bã cà phê. Sản phẩm đã được chứng nhận VietGAP. Những quả có kích cỡ đặc biệt, trọng lượng có thể đạt khoảng 1 kg/quả, giá bán lên tới 150.000 - 180.000 đồng/kg.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Huy Đức thông tin, nguồn thu từ bán quả được dành để tái đầu tư vườn, mở rộng sản xuất. Hiện hợp tác xã có 10 lao động làm việc theo tháng, thu nhập bình quân khoảng 9 triệu đồng/người/tháng.
Đa dạng kênh bán hàng
Cùng với phương thức tiêu thụ truyền thống, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã tại Điện Biên đã chủ động khai thác thương mại điện tử, mạng xã hội và livestream để quảng bá, bán hàng.
Với Mường Khoe Xanh, khi diện tích vú sữa Hoàng Kim ngày càng mở rộng, tìm kiếm khách hàng trở thành yêu cầu song hành với tổ chức sản xuất. Bên cạnh cung ứng cho các cửa hàng, hợp tác xã kết hợp bán hàng trực tuyến, giới thiệu sản phẩm ngay tại vườn.

Vú sữa Hoàng Kim bén rễ sâu và mang lại thu nhập cho thành viên Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Mường Khoe Xanh
Nhờ kết hợp các kênh bán hàng, vú sữa Hoàng Kim Mường Ảng đã có mặt tại nhiều địa phương thông qua chuỗi cung ứng 80 cửa hàng tại Hà Nội. Khách hàng từ TP. Hồ Chí Minh và các địa phương khác cũng tìm đến đặt mua, có thời điểm hợp tác xã chưa đủ sản lượng đáp ứng nhu cầu.
Bên cạnh livestream, sản phẩm của hợp tác xã được Sở Công Thương và chính quyền địa phương hỗ trợ quảng bá tại các hội chợ lớn trong nước như Hội chợ Mùa Thu, Hội chợ Mùa Xuân. Đây là dịp để hợp tác xã giới thiệu sản phẩm, tiếp xúc trực tiếp với người mua và tìm kiếm đối tác phân phối.
Tương tự, tại cơ sở Thịt gác bếp Chung Phước, thương mại điện tử đang mở rộng phạm vi tiêu thụ các sản phẩm chế biến đặc trưng địa phương.
Chị Lường Thị Ọi, chủ cơ sở, cho biết: “Nhiều người đã biết đến thịt trâu, thịt lợn gác bếp, lạp xưởng của Chung Phước qua thương mại điện tử. Nhiều đơn hàng từ miền Nam, miền Trung đã được chốt đặt. Sản phẩm trở thành món ăn, quà biếu của nhiều gia đình. Với cơ sở sản xuất, khả năng tiếp cận người mua ngoài địa bàn giúp mở rộng cơ hội tiêu thụ những mặt hàng mang đặc trưng của tỉnh Điện Biên”.
Một điểm nhấn trong hoạt động xúc tiến tiêu thụ nông sản trên môi trường số của tỉnh là phiên mega live “Hành trình nông sản Điện Biên”, do Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh phối hợp tổ chức tháng 4/2026.
Chương trình có sự tham gia của nhiều nhà sáng tạo nội dung, giới thiệu các sản phẩm nông sản, OCOP, đặc sản và sản phẩm làng nghề như khoai lang Thanh An, miến dong, mắc ca, thịt gác bếp, gạo Séng Cù, gạo nếp nương, chẩm chéo, cà phê, chè… Kết quả, phiên bán hàng ghi nhận 6.900 đơn chốt thành công, giúp nông dân tiêu thụ ngay 30 tấn khoai lang cùng một số sản phẩm OCOP khác.
Xúc tiến thương mại mở rộng thị trường
Bên cạnh liên kết sản xuất và bán hàng trực tuyến, Điện Biên đang triển khai xúc tiến thương mại theo hướng kết hợp phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng hệ thống phân phối.
Tại xã Thanh An, Hợp tác xã Tâm Thiện, đầu tư công nghệ chế biến đang góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng gạo. Thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2020, hợp tác xã chuyên thu mua lúa gạo, xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao, đồng thời liên kết với người dân hình thành vùng nguyên liệu ổn định. Đến nay, hợp tác xã liên kết với 150 hộ dân trên diện tích hơn 200 ha, chủ lực là giống gạo Séng Cù từ cánh đồng Mường Thanh.
Chị Trần Thị Hương Quế, Giám đốc Hợp tác xã Tâm Thiện chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của cánh đồng Mường Thanh tạo nên hương vị đặc trưng của gạo Séng Cù, với vị đậm, độ dẻo dai, mềm và hương thơm tự nhiên.
Đáng chú ý, việc đầu tư hệ thống máy móc hiện đại, từ xay xát đến đánh bóng thành phẩm, đã giúp sản lượng tăng gấp 6 - 7 lần so với phương pháp thủ công trước đây, đồng thời giảm tỷ lệ gạo vỡ, gạo tấm. Nếu năm đầu tiên đưa ra thị trường khoảng 100 tấn gạo, đến nay sản lượng của hợp tác xã đã đạt khoảng 3.000 tấn.
Bên cạnh sự chủ động của các hợp tác xã, doanh nghiệp trong liên kết sản xuất với bà con dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu, chất lượng sản phẩm, chính quyền tỉnh Điện Biên cũng đã góp sức thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá thông qua các chương trình xúc tiến thương mại.

Hợp tác xã Hợp tác xã Tâm Thiện đưa sản phẩm lên quảng bá, tiêu thụ trên các nền tảng số
Từ đầu năm 2026, Sở Công Thương tỉnh đã tham gia nhiều chương trình quy mô lớn như Hội chợ thương mại - du lịch quốc tế Việt - Trung tại Quảng Ninh; Lễ hội nông sản, OCOP, làng nghề gắn kết du lịch tại Thái Nguyên; Hội chợ OCOP tỉnh Tuyên Quang và Hội chợ Xúc tiến thương mại và sản phẩm OCOP Điện Biên năm 2026.
Thông qua hội chợ, triển lãm và các chương trình kết nối cung - cầu, doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác, tiếp cận hệ thống phân phối. Hoạt động quảng bá cũng được lồng ghép tại các sự kiện của tỉnh, trong đó có Lễ hội Hoa Ban.
Tỉnh cũng hướng tới tổ chức các phiên chợ thanh toán không dùng tiền mặt, phấn đấu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử đạt khoảng 50 - 55%.
Một nội dung đáng chú ý khác là thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2030 giữa tỉnh Điện Biên và Tổng công ty Bưu điện Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp bưu chính sẽ phát huy lợi thế sàn thương mại điện tử nông sản và mạng lưới phân phối để hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng của địa phương; xây dựng gian hàng, tổ chức trưng bày, quảng bá sản phẩm. Đồng thời, Bưu điện Việt Nam dự kiến đầu tư phát triển điểm trung chuyển, kho logistics phục vụ thu gom nông sản, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Có thể thấy, với sự chung tay đắc lực của chính quyền và nhân dân tỉnh Điện Biên, bài toán tiêu thụ nông sản, nhất là sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số đã phần nào tìm được lời giải. Và khi người dân có đầu ra ổn định, doanh nghiệp, hợp tác xã có điều kiện mở rộng sản xuất, lợi thế về nông sản, sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương mới có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

