Khuyến công Phú Thọ: Tăng cường kết nối, nâng cao giá trị sản phẩm công nghiệp nông thôn
Theo định hướng hoạt động, khuyến công Phú Thọ sẽ ưu tiên phát triển chế biến sâu nông, lâm sản; công nghiệp hỗ trợ, sản xuất các sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu; các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống gắn với ứng dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Đầu tư, đổi mới sản xuất sản phẩm công nghiệp nông thôn
Sau sát nhập ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ (mới) có không gian phát triển được mở rộng, cùng những lợi thế riêng về vị trí địa lý và công nghiệp, tạo điều kiện để địa phương tiếp tục phát huy vai trò là một trong những trung tâm công nghiệp của vùng.
Đáng chú ý, theo Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ, ngành công nghiệp của tỉnh có sự tham gia của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn, trong đó có Toyota, Honda và hàng trăm doanh nghiệp FDI đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc; Trung Quốc, đồng thời có thế mạnh về năng lượng với hệ thống thủy điện Hòa Bình. Đây là nền tảng quan trọng để Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
Trong bức tranh phát triển công nghiệp đó, khu vực công nghiệp nông thôn (CNNT) tiếp tục giữ vai trò quan trọng với số lượng cơ sở lớn, ngành nghề đa dạng và phân bố rộng trên địa bàn. Các cơ sở CNNT đóng góp vào hoạt động sản xuất, tạo việc làm và khai thác lợi thế địa phương. Vì vậy, chương trình khuyến công có ý nghĩa thiết thực trong hỗ trợ các cơ sở đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

Công ty TNHH HTH Vĩnh Phúc - một trong các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn được hỗ trợ từ chính sách khuyến công
Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ cho biết, qua thực tiễn triển khai, chương trình khuyến công đã đồng hành với các cơ sở CNNT trong quá trình đầu tư, đổi mới sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tác động của chương trình thể hiện trước hết ở việc tạo động lực để các cơ sở mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô và từng bước đổi mới phương thức sản xuất. Nguồn kinh phí khuyến công tuy còn thấp so với tổng mức đầu tư của doanh nghiệp nhưng có tác dụng hỗ trợ ban đầu, góp phần giảm bớt chi phí đầu tư và khuyến khích cơ sở triển khai các phương án phát triển sản xuất.
Thông qua hỗ trợ đầu tư máy móc, thiết bị, các cơ sở có điều kiện từng bước nâng cao năng lực sản xuất, giảm lao động thủ công, cải thiện chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh. Đây cũng là cơ sở để các cơ sở CNNT từng bước thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nhất là về chất lượng, năng suất và khả năng cạnh tranh.
Cùng với hỗ trợ đầu tư sản xuất, hoạt động khuyến công ngày càng chú trọng đến phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và nâng cao năng lực quản trị. Qua đó, các cơ sở có thêm điều kiện hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, mở rộng tiêu thụ trong nước, tham gia chuỗi cung ứng và hướng tới thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, với địa bàn rộng, mặc dù nguồn nguyên liệu phong phú, ngành nghề đa dạng và số lượng cơ sở CNNT lớn tạo cơ hội cho địa phương hình thành các vùng sản xuất, chuỗi liên kết và phát triển sản phẩm có lợi thế. Song, giữa các khu vực vẫn có sự khác biệt về hạ tầng, quy mô sản xuất, trình độ công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường. Thực tế đó đòi hỏi việc xây dựng, lựa chọn và triển khai các đề án khuyến công phải tính đến đặc điểm của từng địa bàn, ngành nghề và năng lực tiếp nhận hỗ trợ của cơ sở.
Một yêu cầu khác được đặt ra là gắn hoạt động khuyến công với phát triển xanh và hiện đại hóa sản xuất. Thay vì chỉ tập trung đầu tư máy móc, thiết bị, các cơ sở ngày càng cần quan tâm đến chuyển đổi số, tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả nguyên liệu, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc mở rộng các nội dung hỗ trợ theo hướng này phù hợp với yêu cầu đổi mới sản xuất và những nội dung được bổ sung tại Nghị định số 235/2025/NĐ-CP về khuyến công.
Đặc biệt, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý và tổ chức thực hiện chương trình. Với địa bàn rộng, số lượng cơ sở lớn, công tác nắm bắt nhu cầu, hướng dẫn và đồng hành ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tiếp cận, hấp thụ chính sách của các cơ sở CNNT.
Hỗ trợ nâng cao năng lực của các cơ sở CNNT
Từ thực tiễn triển khai khuyến công những năm qua và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tỉnh Phú Thọ định hướng đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao, đồng thời nâng cao hiệu quả hỗ trợ đối với từng cơ sở CNNT.
Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ nêu: địa phương sẽ chuyển mạnh từ phương thức tiếp nhận đề nghị hỗ trợ sang chủ động khảo sát, phát hiện và lựa chọn nhu cầu từ cơ sở. Trong điều kiện địa bàn rộng, số lượng cơ sở CNNT lớn, công tác khuyến công cần tăng cường khảo sát thực tế, xây dựng cơ sở dữ liệu về các cơ sở, ngành nghề, quy mô sản xuất, nhu cầu đầu tư máy móc, công nghệ và thị trường. Trên cơ sở đó, kế hoạch khuyến công sẽ được xây dựng theo nhóm ngành, địa bàn và mục tiêu phát triển, thay vì chủ yếu tổng hợp các đề xuất riêng lẻ. Cách tiếp cận này hướng tới việc xác định đúng nhu cầu, lựa chọn nội dung hỗ trợ phù hợp với điều kiện sản xuất và khả năng phát triển của từng nhóm cơ sở.
Về định hướng ngành nghề, Phú Thọ ưu tiên phát triển chế biến sâu nông, lâm sản; công nghiệp hỗ trợ; sản xuất các sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu; các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống gắn với ứng dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, với không gian phát triển mới cùng sự hiện diện của các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp FDI, chương trình khuyến công được định hướng hỗ trợ nâng cao năng lực của các cơ sở, từng bước tiếp cận tiêu chuẩn, công nghệ và phương thức sản xuất hiện đại. Việc tăng cường kết nối với doanh nghiệp lớn, tham gia chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu cũng được đặt ra nhằm mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo động lực để công nghiệp nông thôn trở thành một bộ phận tích cực trong hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh.
Một trọng tâm khác là đưa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trở thành nội dung xuyên suốt trong hoạt động khuyến công. Việc hỗ trợ máy móc, thiết bị cần gắn với đổi mới công nghệ, tự động hóa, tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng và kiểm soát chất lượng. Đối với những cơ sở có điều kiện, địa phương định hướng khuyến khích ứng dụng phần mềm quản trị, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất và kết nối thị trường trên nền tảng số. Định hướng này phù hợp với các nội dung mới được bổ sung tại Nghị định số 235/2025/NĐ-CP, trong đó có chuyển đổi số, sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, xử lý môi trường. Qua đó, hoạt động khuyến công không chỉ hướng đến hỗ trợ đầu tư thiết bị mà còn thúc đẩy thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, sử dụng tài nguyên hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường.
Đối với sản phẩm CNNT tiêu biểu, Phú Thọ định hướng nâng cao hiệu quả hỗ trợ theo hướng đồng hành xuyên suốt quá trình phát triển sản phẩm, chú trọng cả giai đoạn sau công nhận. Các nội dung cần quan tâm gồm hoàn thiện bao bì, nhãn hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ và mở rộng thị trường. Theo định hướng này, hiệu quả hỗ trợ không chỉ được thể hiện ở số lượng sản phẩm được công nhận mà còn ở khả năng nâng cao giá trị, mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường và tăng sản lượng tiêu thụ. Đây là yêu cầu gắn hoạt động khuyến công với nhu cầu thực tế của cơ sở và kết quả phát triển sản phẩm.
| Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác khuyến công Phú Thọ cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức hỗ trợ các cơ sở CNNT ở cấp xã. Theo đó, cấp xã cần được phát huy vai trò trong phát hiện nhu cầu, cung cấp thông tin và phối hợp triển khai chương trình. Sở Công Thương và đơn vị thực hiện nhiệm vụ khuyến công sẽ tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã, xây dựng tài liệu hướng dẫn ngắn gọn, dễ áp dụng, đồng thời duy trì phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. |

