Bộ Công Thương họp báo thường kỳ quý l/2026
Chiều 09/4/2026, Bộ Công Thương tổ chức họp báo thường kỳ quý I/2026 nhằm cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí về kết quả hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại quý I/2026, đồng thời thông tin về những định hướng triển khai nhiệm vụ công tác quý II/2026. Thứ trưởng, Người phát ngôn Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân chủ trì họp báo.
Cùng tham dự họp báo có lãnh đạo các Cục, Vụ, đơn vị chức năng trong Bộ Công Thương; các phóng viên, nhà báo của các cơ quan báo chí trung ương và địa phương.
Tại cuộc họp, ông Bùi Huy Sơn - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp thông tin: quý I/2026 mở ra với không ít áp lực từ bên ngoài khi kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm, chỉ quanh mức 2,8 - 3,0%. Xung đột địa chính trị kéo dài, đặc biệt tại Ukraine và Trung Đông khiến chuỗi cung ứng năng lượng và logistics bị gián đoạn, chi phí đầu vào tăng cao. Trong nước, từ tháng 3, giá nhiên liệu thế giới tăng mạnh đã bắt đầu tác động rõ hơn đến hoạt động sản xuất và vận tải.
Khó khăn là vậy, ngành Công Thương vẫn duy trì được nhịp tăng trưởng khá tích cực ở nhiều lĩnh vực. Sản xuất công nghiệp tiếp tục là điểm tựa quan trọng. Chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7% - mức tăng cho thấy khu vực sản xuất chủ lực vẫn giữ được đà phục hồi. Một số ngành gắn với đầu tư hạ tầng ghi nhận mức tăng cao như sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 19,7%, sản xuất kim loại tăng 22,9%, phản ánh hiệu ứng lan tỏa từ việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.
Đáng chú ý, chỉ số nhà mua hàng (PMI) tháng 3 đạt 51,2 điểm, đánh dấu tháng thứ 9 liên tiếp duy trì trên ngưỡng 50 điểm. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục mở rộng, đồng thời củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Ở lĩnh vực xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch 3 tháng đầu năm ước đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 122,9 tỷ USD, tăng 19,1%. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 87,8 tỷ USD, tăng 20%, cho thấy năng lực sản xuất nội địa đang phục hồi rõ nét.
Một số thị trường xuất khẩu ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng như Hồng Kông (Trung Quốc) tăng 47,4%, Trung Quốc tăng 26,4%, Hoa Kỳ tăng 24,3%. Đây là tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đã chủ động hơn trong việc tận dụng cơ hội thị trường và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do.
Nhập khẩu đạt gần 126,6 tỷ USD, tăng 27%, chủ yếu tập trung vào máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Điều này phần nào phản ánh kỳ vọng mở rộng sản xuất trong các quý tiếp theo.
Thị trường trong nước tiếp tục ổn định, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 10,9%. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản được kiểm soát, góp phần giữ vững cân đối cung cầu.
Cùng với đó, công tác quản lý nhà nước được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. An ninh năng lượng được đảm bảo với sản lượng điện toàn hệ thống đạt 63,6 tỷ kWh, tăng 6,1%. Công tác điều hành xăng dầu linh hoạt, góp phần hạn chế tác động từ biến động giá thế giới.
Hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và xúc tiến thương mại tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường. Thương mại điện tử duy trì vai trò là kênh phân phối quan trọng, hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là nông sản. Trong quý I, các sàn thương mại điện tử đã gỡ bỏ gần 3.000 sản phẩm vi phạm, góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh.
Công tác phòng vệ thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, hoàn thiện thể chế cũng được chú trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định và bền vững của ngành.
Ông Bùi Huy Sơn cũng thông tin, bên cạnh những kết quả tích cực, Bộ Công Thương cũng nhìn nhận một số thách thức trong các lĩnh vực quản lý của ngành.
Trước hết là áp lực về an ninh năng lượng khi phụ tải đỉnh có xu hướng đến sớm. Việc điều tiết giữa các nguồn điện trong khi điện nền còn khó khăn đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác vận hành hệ thống.
Tăng trưởng giữa các ngành chưa thực sự đồng đều. Một số ngành như phân bón, khai thác than còn suy giảm do thiếu hụt nguyên liệu đầu vào, biến động giá cả và hạn chế về công nghệ, đầu tư.
Tiến độ triển khai một số dự án nguồn và lưới điện còn chậm do vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư và điều chỉnh quy hoạch, ảnh hưởng đến khả năng bổ sung nguồn cung năng lượng trong trung và dài hạn.
Ngoài ra, những biến động khó lường của kinh tế thế giới, đặc biệt là xung đột địa chính trị, tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất và hoạt động xuất nhập khẩu.
Để khắc phục những hạn chế này và tạo đà tăng trưởng cho các tháng tiếp theo, Bộ Công Thương đã đề ra nhiều giải pháp trọng tâm.
Trong lĩnh vực năng lượng, ngành tập trung điều hành hệ thống điện linh hoạt, đảm bảo cung ứng đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt. Đồng thời, triển khai lộ trình xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia, tăng cường khả năng điều tiết và ứng phó với biến động. Mục tiêu đến năm 2030 giảm tỷ lệ nhập khẩu ròng năng lượng xuống còn khoảng 30% cũng được đặt ra như một định hướng dài hạn.
Về công nghiệp, trọng tâm là cơ cấu lại chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực tự chủ. Ngành phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 40 - 45% ở các lĩnh vực trọng điểm như dệt may, da giày, hóa chất. Cùng với đó là thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
Ở lĩnh vực xuất nhập khẩu, việc đa dạng hóa thị trường tiếp tục được đẩy mạnh, hướng tới các khu vực tiềm năng như Trung Đông, Mỹ Latinh. Đồng thời, chú trọng phát triển xuất khẩu xanh, đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế như cơ chế điều chỉnh biên giới carbon. Công tác phòng vệ thương mại cũng được tăng cường nhằm bảo vệ doanh nghiệp trước các rủi ro từ bên ngoài.
Đối với thị trường trong nước, ngành tiếp tục triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng, kết hợp với tăng cường kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.
Bên cạnh đó, cải cách hành chính và nâng cao kỷ cương công vụ tiếp tục được đẩy mạnh, với việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, mở rộng dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Công Thương đã trả lời các câu hỏi của phóng viên.
Phóng viên Hải Yến (Báo Đầu tư): Xuất nhập khẩu quý tăng trưởng cao. Bộ đánh giá như thế nào về thách thức xuất nhập khẩu của quý II? Đặc biệt là về tình hình nhập siêu của quý I lên đến gần 3,7 tỷ USD, điều này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu xuất siêu của chúng ta duy trì năm thứ 11 liên tiếp. Cùng với đó, những quý còn lại thì mỗi quý phải xuất siêu khoảng 8 tỷ USD. Xin Lãnh đạo Bộ cho biết rõ hơn về những con số này?
Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời: Bức tranh xuất nhập khẩu những tháng đầu năm khá sôi động. Tổng kim ngạch đạt xấp xỉ 250 tỷ USD, tăng khoảng 22% so với cùng kỳ, con số cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực của hoạt động thương mại. Tuy nhiên, đi cùng với tăng trưởng là việc cán cân thương mại nghiêng về nhập siêu khoảng 3,6 tỷ USD. Đây là điểm khiến nhiều người quan tâm khi mục tiêu cả năm đang hướng tới xuất siêu.
Dù vậy, nếu đặt trong bối cảnh nhiều năm, diễn biến này không quá bất thường. Quý I thường không phải là giai đoạn xuất siêu mạnh, mà là thời điểm doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu để chuẩn bị cho sản xuất. Trong quý I, nếu có xuất siêu thì tỷ lệ cũng thường không cao. Đây là giai đoạn các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu, đồng thời giải ngân cho việc mua sắm trang thiết bị để triển khai các dự án mới.
Động lực nhập khẩu năm nay càng rõ nét khi dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong năm 2025. Khi các dự án FDI bước vào giai đoạn triển khai, nhu cầu về máy móc, thiết bị và hạ tầng sản xuất tăng theo là điều tất yếu.
Thực tế thống kê cũng cho thấy xu hướng này: Linh kiện điện tử tăng khoảng 50%, máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng khoảng 22%. Bên cạnh đó, các mặt hàng năng lượng như xăng dầu, dầu mỏ hay nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đều ghi nhận mức tăng đáng kể. Đây đều là những đầu vào phục vụ trực tiếp cho sản xuất.
Nhìn từ góc độ này, phần nhập siêu trong quý I mang tính “đầu tư” nhiều hơn là mất cân đối. Tốc độ tăng nhập khẩu trong quý I dẫn đến tình trạng nhập siêu. Tuy nhiên, tình hình này vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát.
Dẫu vậy, áp lực đối với các quý tiếp theo là không nhỏ. Khi lượng nhập khẩu lớn cần được “chuyển hóa” thành sản phẩm xuất khẩu, khả năng tăng tốc của doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định trong việc đưa cán cân thương mại quay trở lại trạng thái tích cực.
Bước sang quý II/2026, bối cảnh thị trường quốc tế được dự báo sẽ phức tạp hơn, kéo theo những thách thức mới đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Một trong những yếu tố đáng lưu ý là sự thay đổi trong tâm lý tiêu dùng toàn cầu. Dù căng thẳng tại Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, nhưng tác động của lạm phát và giá cả tăng cao vẫn khiến người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa.
Bên cạnh đó, rủi ro về nguồn cung nguyên liệu, đặc biệt là dầu mỏ, cũng là vấn đề cần theo dõi. Đây là đầu vào quan trọng của nhiều ngành sản xuất, từ hóa chất đến nhựa và phân bón. Nếu nguồn cung bị gián đoạn, chi phí sản xuất sẽ tăng lên, kéo theo những tác động dây chuyền đến xuất khẩu.
Ngoài ra, chi phí logistics đang có xu hướng gia tăng trở lại sau một thời gian ổn định. Điều này khiến áp lực chi phí càng trở nên rõ rệt, nhất là với những ngành có biên lợi nhuận thấp.
Dù đối mặt với nhiều khó khăn, triển vọng không hoàn toàn tiêu cực. Nếu các yếu tố địa chính trị được cải thiện, đặc biệt là khi giá dầu hạ nhiệt, áp lực chi phí đầu vào và vận chuyển có thể giảm bớt, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu.
Trong bối cảnh đó, khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp sẽ trở thành yếu tố then chốt. Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, nâng cao năng lực cạnh tranh, cũng như chủ động điều chỉnh chiến lược thị trường sẽ giúp doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng.
Có thể thấy, xuất nhập khẩu năm 2026 đang đi qua một giai đoạn chuyển tiếp, nơi những tín hiệu tích cực và thách thức đan xen. Nhập siêu trong quý I không phải là “điểm trừ”, mà là bước chuẩn bị cho một chu kỳ sản xuất mới.
Phóng viên Kim Oanh (Báo Xây dựng): Hiện nay các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, đang gặp khó khăn về nguồn nhân lực đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, dẫn tới hạn chế trong việc tham gia xuất khẩu. Vậy Cục Xuất nhập khẩu có những giải pháp cụ thể nào để hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này trong quá trình chuyển đổi xanh và kết nối thị trường quốc tế?
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn liên quan đến xanh hóa, truy xuất nguồn gốc và lao động, Bộ Công Thương sẽ triển khai những giải pháp cụ thể nào trong năm 2026 nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ duy trì đơn hàng và thúc đẩy xuất khẩu?
Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu trả lời: Liên quan đến vấn đề chuyển đổi xanh, đặc biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, có thể thấy rằng trong thời gian qua, các doanh nghiệp này đã nhận được một số cơ chế, chính sách ưu đãi nhất định.
Cụ thể, các nội dung hỗ trợ tập trung vào việc tiếp cận tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực cũng như đổi mới công nghệ. Đặc biệt, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị cũng đã đưa ra các định hướng quan trọng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong chuyển đổi xanh, trong đó có các chính sách về đầu tư máy móc, thiết bị, phát triển tín dụng xanh và hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Về phía Bộ Công Thương, chúng tôi đã lồng ghép các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, vào nhiều chương trình trọng điểm như: Chương trình khuyến công quốc gia, Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Chương trình Thương hiệu quốc gia, Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.
Các hình thức hỗ trợ cũng khá đa dạng, thông qua việc tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn, xây dựng tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin, tiếp cận các nguồn tài chính xanh, cũng như kết nối giao thương, mở rộng thị trường.
Đối với Cục Xuất nhập khẩu, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai một số giải pháp như: hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các quy định về xuất xứ hàng hóa; đồng thời đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối với đối tác quốc tế, tạo thuận lợi thương mại và nâng cao hiệu quả hoạt động logistics. Qua đó, góp phần giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh khi tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm: Đối với Bộ Công Thương, đồng chí Bộ trưởng cũng đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Cục Xuất nhập khẩu tiến hành rà soát lại Chiến lược xuất nhập khẩu, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số. Mục tiêu, chỉ tiêu đã được xác định rõ, vấn đề đặt ra hiện nay là tổ chức triển khai như thế nào để đạt được mục tiêu đó.
Hiện nay, Cục Xuất nhập khẩu đang tổ chức thực hiện nội dung này. Dự kiến, trong tháng 5 sẽ hoàn thành việc rà soát, xây dựng. Trong quá trình đó, các nội dung mà các anh chị phóng viên quan tâm cũng sẽ được nghiên cứu, thể hiện trong chiến lược này.
Đồng thời, trong quá trình soạn thảo, chúng tôi sẽ tổ chức các hội thảo, hội nghị và mời các cơ quan báo chí tham gia để cùng trao đổi, góp ý. Qua đó, các nội dung đưa ra sẽ thiết thực hơn, rõ ràng hơn, sát với yêu cầu thực tiễn.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng việc xây dựng và triển khai chiến lược trong bối cảnh hiện nay cần được tính toán kỹ lưỡng, bởi tình hình thế giới và thị trường đang có nhiều biến động phức tạp.
Phóng viên Minh Tuấn, Tạp chí Nhà đầu tư: Xin được hỏi về cập nhật quá trình đàm phán thương mại, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thuế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Như chúng ta đã biết, vào tháng 2 vừa qua, phía Hoa Kỳ đã tuyên hủy một số biện pháp thuế quan được áp dụng dưới thời chính quyền Tổng thống Donald Trump theo đạo luật IEEPA. Tuy nhiên, sau đó phía Hoa Kỳ, cụ thể là Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã khởi động lại điều tra theo Mục 301 đối với hơn chục quốc gia, trong đó có Việt Nam. Xin Bộ Công Thương cho biết phản ứng của Việt Nam đối với diễn biến này ra sao, cũng như các bước đi sắp tới của chúng ta để ứng phó với các động thái mới từ phía Hoa Kỳ? Đồng thời, xin Thứ trưởng cập nhật thêm về kết quả các vòng đàm phán trước đây, liệu Việt Nam có thể tận dụng các kết quả này để phục vụ cho các cuộc điều tra mới hoặc các vòng đàm phán sắp tới hay không?
Bà Phạm Quỳnh Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên trả lời: Hoa Kỳ khởi xướng 2 cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 về vấn đề dư thừa công suất đối với 16 quốc gia và vùng lãnh thổ; vấn đề lao động cưỡng bức đối với 60 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong đó có Việt Nam). Việc điều tra áp dụng đối với nhiều quốc gia, gồm cả các nền kinh tế phát triển như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Đây đều là những nền kinh tế có mức độ mở cửa cao. Do đó, việc điều tra không chỉ áp dụng đối với các nền kinh tế chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường, mà được thực hiện trên phạm vi rộng hơn.
Trong thời gian qua, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và người dân của cả hai nước. Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành liên quan đã và đang thường xuyên trao đổi với phía Hoa Kỳ về các chính sách liên quan, trong đó có các nội dung về đàm phán thuế và phối hợp cung cấp thông tin phục vụ quá trình điều tra theo Mục 301. Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với phía Hoa Kỳ để chia sẻ thông tin, làm rõ các vấn đề liên quan đến chính sách của Việt Nam. Qua đó giúp phía Hoa Kỳ hiểu rõ rằng các chính sách của Chính phủ Việt Nam được xây dựng và thực hiện trên cơ sở hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế mở, minh bạch. Việt Nam không ban hành các chính sách trợ cấp nhằm tạo ra tình trạng dư thừa công suất, để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Mục tiêu là hướng tới xây dựng một khuôn khổ chính sách phù hợp, tạo điều kiện để hai bên duy trì quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài và cùng có lợi cho cả hai nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ đầy đủ các quy định liên quan, trong đó có các cam kết và quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm: Hiện đang tiếp tục triển khai và đã hoàn thành 6 vòng đàm phán. Về cơ bản, hai bên đã đạt được sự thống nhất khá cao và quan điểm đã tương đối gần nhau. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục trao đổi và giải quyết trong thời gian tới.
Vừa qua, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành phán quyết liên quan đến chính sách thuế, trong đó bác bỏ một số nội dung về việc áp dụng mức thuế trước đó. Trên cơ sở phán quyết này, Hoa Kỳ đã ngay lập tức vận dụng Điều khoản 122 để áp dụng mức thuế chung 10% đối với tất cả các quốc gia.
Nếu trước đây một số mặt hàng chịu mức thuế khoảng 20%, thì hiện nay mức thuế được điều chỉnh xuống còn 10%. Đây là một yếu tố thuận lợi đối với doanh nghiệp Việt Nam và hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Đây là quy định mang tính tạm thời, mức thuế 10% chỉ được áp dụng trong thời hạn 150 ngày. Hiện các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tiếp tục trao đổi với phía Hoa Kỳ và theo dõi sát các động thái chính sách. Theo quy trình của Mục 301, phía Hoa Kỳ sẽ triển khai một quy trình pháp lý riêng. Thời hạn để các quốc gia, trong đó có Việt Nam nộp bản trả lời liên quan đến các quan ngại mà phía Hoa Kỳ nêu ra là ngày 15/4.
Việt Nam đang chủ động tham gia đầy đủ vào quá trình này, chuẩn bị các nội dung trả lời và phối hợp chặt chẽ với phía Hoa Kỳ. Mục tiêu là bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xử lý các vấn đề thương mại song phương.
Phóng viên Minh Tuấn, Tạp chí Nhà đầu tư: Liên quan đến vấn đề cung ứng điện, dù chưa bước vào cao điểm mùa hè nhưng trong tháng 3 vừa qua, sản lượng tiêu thụ điện trong ngày đã ghi nhận mức kỷ lục. Xin Bộ Công Thương cho biết đánh giá về triển vọng cung ứng điện trong các tháng tới, và liệu chúng ta có nguy cơ đối mặt với tình trạng thiếu điện như mùa hè năm 2023 hay không, đặc biệt trong bối cảnh nguồn cung năng lượng toàn cầu, nhất là từ khu vực Trung Đông, đang có nhiều biến động.
Ông Nguyễn Thế Hữu - Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời: Vào cuối tháng 3, nắng nóng đã xuất hiện ở khu vực miền Bắc cao điểm sẽ diễn ra vào cuối tháng 4, tháng 5, tháng 6 và tháng 7.
Tuy nhiên, năm nay ngay từ ngày 31/3 nắng nóng ở miền Bắc đã xuất hiện và phụ tải điện đã tăng cao. Con số khoảng 1 tỷ kWh điện không phải là kỷ lục quốc gia, vì các năm trước đã từng ghi nhận, nhưng đây là mức cao nhất từ đầu năm tính đến ngày 31/3. Đến ngày 7/4 vừa rồi, phụ tải còn cao hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết nắng nóng dẫn tới nhu cầu sử dụng điện tăng cao.
Liên quan đến huy động điện, ngay từ cuối năm 2025, Bộ Công Thương đã phê duyệt kế hoạch bảo đảm cung cấp điện cho năm 2026, với phương án cơ sở tăng trưởng khoảng 8,5% và phương án cực đoan cho mùa khô có thể lên tới 14,1%. Hiện tại, tăng trưởng phụ tải tích lũy đến thời điểm này khoảng hơn 6%, vẫn nằm trong kế hoạch dự kiến.
Tuy nhiên, việc đáp ứng nhu cầu phụ tải phụ thuộc rất nhiều vào tình hình thời tiết. Hiện chúng ta đang ở trong một đợt nắng nóng, nếu nắng nóng tiếp tục kéo dài, nhiệt độ tăng cao và hiệu ứng ủ nhiệt tại các đô thị lớn lên, theo đó nhu cầu sử dụng điện sẽ tăng đột biến, gây áp lực rất lớn lên hệ thống điện.
Bộ Công Thương đã triển khai rất nhiều giải pháp để chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị phát điện, truyền tải, phân phối và điều độ nhằm bảo đảm cung cấp điện.
Thứ nhất, hiện nay hầu hết các hồ thủy điện lớn, đặc biệt là các hồ thủy điện lớn ở miền Bắc, đều đang duy trì được mực nước cao để sẵn sàng cho đợt cao điểm mùa khô. Điều này cũng lý giải nguyên nhân tại sao tỷ trọng thủy điện trong cơ cấu nguồn điện thời điểm này đang thấp; sang mùa lũ, cơ cấu này sẽ điều chỉnh lại. Tuy nhiên, sản lượng thủy điện còn phụ thuộc vào lượng nước về hằng năm, vì vậy luôn có những biến động nhất định.
Thứ hai, về cung cấp nhiên liệu, đầu tháng 4 vừa rồi, PV GAS cũng đã thông báo nâng khả năng tái hóa khí từ hơn 7 triệu m3/ngày lên 9,5 triệu m3/ngày. Như vậy, điều này trực tiếp làm tăng độ linh hoạt trong huy động các nguồn điện khí ở miền Đông Nam Bộ, đáp ứng nhu cầu phụ tải của miền Nam, nhất là vào các giờ cao điểm chiều, khi không còn nắng nữa.
Vào 00 giờ ngày 7/4, Nhiệt điện Vũng Áng II đã hoàn tất các quy trình thử nghiệm kỹ thuật và chính thức phát điện thương mại, bổ sung thêm khoảng 1.300 MW cho hệ thống.
Về phía lưới điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia cũng đã bổ sung, thay thế, nâng công suất một số trạm 500kV như Phố Nối, Lai Châu, Hòa Bình. Đồng thời, tính đến ngày 15/5 này, theo kế hoạch sẽ lần lượt đưa vào khoảng 18 bộ tụ bù ngang để nâng cao khả năng ổn định, nâng cao khả năng truyền tải và cung cấp điện cho khu vực phía Bắc.
Bên cạnh đó, về phía phụ tải, đối với những phần việc chủ động về nguồn, từ phía cung cấp nhiên liệu và lưới điện, các đơn vị điện lực cũng đã tích cực triển khai giải pháp. Hiện phụ tải, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến để điều chỉnh khung giờ cao điểm của biểu giá điện hệ thống.
Khung giờ cao điểm của biểu giá điện này sẽ tác động đến các phụ tải sản xuất đang áp dụng công tơ 3 giá, tức biểu giá điện theo giờ, theo hướng khuyến khích chuyển nhu cầu sử dụng điện, nhất là ở một số ngành như sắt thép, xi măng, chế biến thực phẩm… từ giờ cao điểm sang giờ thấp điểm. Việc này sẽ giúp cân bằng đồ thị phụ tải và giảm áp lực cho hệ thống điện, đặc biệt trong những giờ cao điểm.
Bộ Công Thương mong muốn các cơ quan báo chí tăng cường tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp và các đơn vị triển khai hiệu quả các Chỉ thị của Thủ tướng về tiết kiệm điện. Đồng thời, khuyến khích dịch chuyển nhu cầu sử dụng điện từ giờ cao điểm sang giờ thấp điểm, theo khuyến cáo của cơ quan chức năng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam, qua đó góp phần quan trọng bảo đảm cung ứng điện.
Phóng viên Nguyên Long, VOV1 Đài Tiếng nói Việt Nam: Liên quan đến lĩnh vực xe điện, có thể thấy trong năm 2025 và quý I/2026, thị trường xe điện tại Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng khá cao. Cùng với đó, một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện trong thời gian vừa qua cũng được cho là đến từ việc sử dụng xe điện. Vì vậy, xin Bộ Công Thương cho biết đã có những tính toán, đánh giá cụ thể như thế nào về nhu cầu điện phục vụ cho xe điện trong thời gian tới? Đồng thời, đâu là những nguyên nhân chính dẫn đến mức tăng trưởng tiêu thụ điện cao trong thời gian gần đây?
Ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời: Hệ thống điện hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đáng chú ý là diễn biến thời tiết cực đoan với các đợt nắng nóng kéo dài, làm gia tăng nhu cầu sử dụng điện tại nhiều địa phương. Bên cạnh đó, tác động của tình hình địa chính trị thế giới cũng tác động đến nguồn cung và giá nhiên liệu phục vụ phát điện. Cũng xuất phát từ nguyên nhân giá nguyên liệu tăng cao, người dân có xu hướng chuyển dịch sang các phương tiện sử dụng điện đang diễn ra rõ nét. Chi phí vận hành, đặc biệt là chi phí sạc điện, đang trở nên cạnh tranh hơn so với các phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, qua đó thúc đẩy người dân chuyển đổi hành vi tiêu dùng.
Theo số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam, tính đến hết năm 2025, nhu cầu điện phục vụ giao thông vận tải ước tính khoảng 652 triệu kWh, tương đương nằm trong khoảng 0,2-0,3% tổng nhu cầu điện thương phẩm toàn quốc. Dự báo đến năm 2030, số lượng xe ô tô điện có thể đạt từ xấp xỉ 1-1,6 triệu xe, xe máy điện khoảng 8-13 triệu xe. Theo đó, dự kiến nhu cầu tiêu thụ điện năng trong khoảng 3,1-5,6 tỷ kWh/năm chiếm tỷ trọng trong khoảng 0,68-1,1%.
Như vậy, về sản lượng tiêu thụ điện từ các phương tiện sử dụng điện vẫn còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nhu cầu sử dụng điện năng, chưa gây áp lực đáng kể lên hệ thống điện. Tuy nhiên, nhu cầu điện cho giao thông không chỉ là tổng lượng điện năng tiêu thụ, mà còn là công suất tức thời cần phải đáp ứng.
Do đó, dự báo tổng nhu cầu điện phục vụ điện hoá giao thông cần xem xét đồng thời bốn nhóm biến số chính: Quy mô phương tiện; đặc tính tiêu thụ năng lượng (kWh/km); hành vi sạc (tần suất sạc, khung giờ sạc, công suất sạc); mức độ tập trung theo địa bàn.
Trong trường hợp có khoảng 100.000 xe ô tô điện cùng sử dụng sạc nhanh với công suất từ 60 đến 120 kW, tổng công suất sạc tức thời có thể lên tới 6-12 GW, tương đương khoảng 1/8 đến 1/4 công suất phụ tải cực đại của hệ thống điện hiện nay.
Từ thực tế này, cùng với việc định hướng là khuyến khích chuyển dịch sang xe điện, nếu xét cho giai đoạn dài hạn thách thức chủ yếu không nằm ở tổng lượng điện sử dụng, mà là việc phát triển lưới điện trung, hạ áp đồng bộ với hạ tầng trạm sạc xe điện. Nguy cơ quá tải lưới điện cục bộ có thể xuất hiện tại các khu vực tập trung đông dân cư hoặc nơi có mật độ trạm sạc cao…Bộ Công Thương đánh giá nhu cầu điện cho phương tiện giao thông điện là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cung cấp điện trong thời gian tới.
Trước những thách thức có thể gặp phải, Bộ Công Thương đang định hướng các đơn vị ngành điện triển khai đồng bộ các giải pháp: Rà soát, cập nhật quy hoạch phát triển điện lực, ưu tiên lưới điện phân phối tại khu vực có tốc độ điện hóa cao; nghiên cứu cơ chế giá điện khuyến khích sạc ngoài giờ cao điểm nhằm hạn chế quá tải cục bộ; đồng thời phát triển trạm sạc thông minh, tích hợp với các nguồn điện phân tán.
Phóng viên Quỳnh Thương, báo Dân trí: Liên quan đến mặt hàng xăng dầu, trong bối cảnh xăng sinh học E10 đang được dự kiến triển khai ngay trong tháng 4, xin Bộ Công Thương cho biết đánh giá về mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp kinh doanh, bán lẻ xăng dầu hiện nay. Đồng thời, Bộ có định hướng điều hành giá bán lẻ xăng E10 như thế nào để bảo đảm khả năng cạnh tranh với xăng khoáng? Và mức chênh lệch giá dự kiến giữa xăng E10 và xăng khoáng có thể ở khoảng bao nhiêu?
Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công trả lời: Ngày 19/3 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Công Thương xem xét việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học E10 ngay trong tháng 4/2026.
Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Công Thương đã nhanh chóng làm việc với các thương nhân đầu mối, yêu cầu báo cáo mức độ sẵn sàng. Chỉ một tuần sau đó, ngày 26/3, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân đã chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành liên quan cùng đại diện Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam và Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam về nội dung này.
Qua các diễn biến cũng như những buổi làm việc có thể nhận diện ba yếu tố chính quyết định tính khả thi của việc đưa xăng E10 vào phân phối ngay trong tháng 4.
Yếu tố đầu tiên là nguồn cung nhiên liệu sinh học etanol (E100). Yếu tố thứ hai là điều kiện pháp lý và kỹ thuật. Yếu tố thứ ba là mức độ sẵn sàng của hạ tầng hệ thống phân phối đến người tiêu dùng.
Riêng với yếu tố thứ 3, đây là khâu có ý nghĩa rất quan trọng, hiện các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam và Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP đã có sự chuẩn bị từ khá sớm, tuy nhiên, các doanh nghiệp quy mô nhỏ thì vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam được bộ Công Thương triển khai từ cuối năm 2024 và thông tin rộng rãi đến các Thương nhân xăng dầu, các doanh nghiệp đã có khoảng một năm rưỡi để chuẩn bị.
Dù việc đưa xăng sinh học E10 vào phân phối được đánh giá là tích cực, nhưng thực tế triển khai vẫn còn những điểm thách thức. Vẫn còn một số doanh nghiệp và cửa hàng xăng dầu quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, như: Thau rửa bồn bể, thiết bị phục vụ việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10.
Trên thực tế, việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10 không đơn giản là thay đổi nguồn hàng, mà còn đòi hỏi phải thau rửa bồn bể, nâng cấp thiết bị và đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp.
Đây là những khoản đầu tư không nhỏ, nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vừa trải qua giai đoạn thị trường biến động. Tại các buổi làm việc, chúng tôi đã khuyến nghị các đơn vị cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị cơ sở hạ tầng nhằm bảo đảm sẵn sàng cho việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học E10.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm: Việc tính toán và điều hành giá xăng sinh học E10 sẽ được thực hiện trong khuôn khổ các quy định hiện hành.
Bộ Công Thương đã có tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các điều kiện và khả năng triển khai phân phối xăng sinh học E10 trong tháng 4 năm 2026. Trong đó, không chỉ dừng lại ở việc đánh giá khả năng, Bộ còn đề xuất một loạt giải pháp nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra suôn sẻ. Các giải pháp này bao gồm cả việc hỗ trợ doanh nghiệp, hoàn thiện hạ tầng, cũng như tăng cường truyền thông để người dân hiểu rõ hơn về lợi ích của xăng sinh học.
Có thể thấy, việc đưa xăng sinh học E10 vào phân phối trong tháng 4 được nhận định khả thi khi một số vướng mắc được tháo gỡ kịp thời, đây là kết quả của một quá trình chuẩn bị có lộ trình được tính toán cẩn thận. Và nếu quá trình triển khai diễn ra thuận lợi, đây sẽ là tiền đề quan trọng cho những bước tiến tiếp theo trong tương lai.
Phóng viên Quỳnh Thương, báo Dân trí: Liên quan đến nguồn cung xăng dầu, xin Bộ Công Thương cập nhật về tình hình nhập khẩu xăng dầu từ khu vực Trung Đông cũng như tiến độ các lô hàng về Việt Nam trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, xin Bộ cho biết thêm về nguồn cung nhiên liệu trong lĩnh vực hàng không hiện nay. Trong trường hợp giá dầu thế giới tăng mạnh, có thể lên tới khoảng 200 USD/thùng, Bộ Công Thương đã xây dựng các kịch bản điều hành như thế nào để bảo đảm ổn định thị trường trong nước?
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phòng Kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trả lời: Thời gian qua, nguồn xăng dầu nhập khẩu từ Trung Đông chịu tác động nhất định từ diễn biến địa chính trị. Tuy nhiên, theo cập nhật từ các doanh nghiệp đầu mối, các lô hàng đã ký kết cơ bản vẫn được triển khai theo kế hoạch, không xảy ra tình trạng hủy hợp đồng trên diện rộng. Một số lô hàng có chậm tiến độ do gián đoạn vận chuyển song các bên đang tích cực phối hợp để đưa hàng về Việt Nam.
Trong 3 tháng đầu năm, các doanh nghiệp đã tăng cường nhập khẩu với khối lượng lớn, đạt trên 3,2 triệu m³. Cùng với lượng tồn kho trong nước, nguồn cung hiện nay cơ bản đủ để bảo đảm nhu cầu đến tháng 5/2026.
Các doanh nghiệp đã chủ động đa dạng hóa nguồn cung, không phụ thuộc vào một khu vực duy nhất. Ngoài nguồn từ Trung Đông, một số doanh nghiệp đã tăng cường nhập khẩu từ các thị trường khác để cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước. Việc đa dạng hóa nguồn cung góp phần giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính linh hoạt trong điều hành thị trường.
Đối với nguồn cung nhiên liệu cho ngành hàng không, đây là lĩnh vực chịu tác động khá rõ từ biến động tại Trung Đông. Thực tế cho thấy giá nhiên liệu bay Jet A1 có thời điểm tăng cao khiến chi phí khai thác của các hãng hàng không gia tăng. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan cùng sự chủ động của các doanh nghiệp, nguồn nhiên liệu hàng không trong nước vẫn được duy trì ổn định, không xảy ra tình trạng gián đoạn hoạt động khai thác.
Dù chịu áp lực lớn từ thị trường quốc tế, nguồn cung xăng dầu nói chung và nhiên liệu hàng không nói riêng vẫn được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu vận tải và tiêu dùng trong nước.
Về kịch bản điều hành trong trường hợp giá xăng dầu thế giới tăng trên 200 USD/thùng, Bộ Công Thương đã chủ động xây dựng phương án điều hành theo hướng linh hoạt, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ nhằm bảo đảm mục tiêu kép là duy trì nguồn cung và kiểm soát ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, về nguồn cung, Bộ Công Thương chỉ đạo các nhà máy lọc dầu trong nước vận hành ở mức công suất cao nhất có thể; đồng thời chủ động điều chỉnh kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, hạn chế phụ thuộc vào một khu vực cung cấp.
Thứ hai, về công cụ giá, các biện pháp bình ổn sẽ được sử dụng linh hoạt. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý có thể phối hợp với Bộ Tài chính để điều chỉnh các sắc thuế liên quan như thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng theo thẩm quyền; hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét nhằm giảm áp lực tăng giá đối với xăng dầu trong nước.
Thứ ba, về kiểm soát tác động vĩ mô, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan để ưu tiên bảo đảm nguồn cung cho các mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là nhiên liệu phục vụ sản xuất. Đồng thời, tăng cường công tác dự báo và cung cấp thông tin kịp thời nhằm ổn định tâm lý thị trường.
Về việc một số kỳ điều hành giá xăng dầu bất thường được thực hiện vào thời điểm nửa đêm chỉ xảy ra trong một số kỳ bất thường, không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên. Thời điểm điều hành này xuất phát từ yêu cầu bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới và các quy định điều hành liên quan.
Giá xăng dầu thế giới biến động liên tục và được chốt theo chu kỳ giao dịch quốc tế. Việc điều hành vào cuối ngày giúp cơ quan quản lý cập nhật dữ liệu giá mới nhất từ thị trường quốc tế, từ đó xác định giá cơ sở sát với thực tế, hạn chế độ trễ của chính sách.
Ngoài ra, việc điều hành vào thời điểm ban đêm cũng giúp triển khai đồng loạt trên toàn quốc, tránh gây xáo trộn hoạt động kinh doanh trong giờ cao điểm và hạn chế tình trạng đầu cơ, mua bán tranh thủ chênh lệch giá trước và sau điều chỉnh.
Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ ghi nhận những bất tiện đối với người dân và doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu, tham mưu điều chỉnh thời điểm điều hành giá cho phù hợp với thực tiễn.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm: Liên quan đến câu hỏi về việc điều hành giá xăng dầu, đặc biệt là việc điều hành vào thời điểm cuối ngày, tôi xin trao đổi thêm như sau: Trước hết, cũng xin báo cáo với các anh chị rằng, trong quá trình rà soát và tính toán giá cơ sở, có những thời điểm chúng tôi cần phải chờ đến cuối ngày mới có đầy đủ dữ liệu để xác định mức giá làm căn cứ điều hành. Trên cơ sở đó, chúng tôi mới có thể đánh giá chính xác xu hướng giá là tăng hay giảm, từ đó đưa ra quyết định điều hành phù hợp, sát nhất với diễn biến của thị trường. Thứ hai, cũng xin chia sẻ thêm một cách thẳng thắn, thực tế là trong một số trường hợp, việc điều hành vào buổi tối thường rơi vào những thời điểm giá có xu hướng tăng. Khi đó, việc lùi thời điểm điều hành phần nào cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp, giúp họ có thêm thời gian thích ứng trước khi mức giá mới được áp dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là một yếu tố tham khảo trong quá trình điều hành. Về nguyên tắc, chúng tôi vẫn luôn cố gắng thực hiện điều hành theo đúng khung giờ thông lệ, thường vào khoảng 15 giờ - 15 giờ 30. Như trong ngày hôm nay, cũng xin thông tin với các anh chị là chỉ còn khoảng 30 phút nữa sẽ có kết quả điều hành giá xăng dầu cho kỳ điều hành định kỳ vào thứ Năm hàng tuần. Bên cạnh đó, có thể chia sẻ thêm rằng, trong đợt điều hành này, mặt bằng giá xăng dầu thế giới có xu hướng giảm và giảm tương đối đáng kể. Đây cũng là một tín hiệu tích cực đối với thị trường trong nước. Trên cơ sở đó, cơ quan điều hành đã quyết định thực hiện trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Việc có thể trích lập Quỹ trong bối cảnh hiện nay cũng cho thấy mặt bằng giá đang ở mức tương đối thuận lợi, góp phần tạo dư địa cho công tác điều hành trong thời gian tới.
Phóng viên Nguyễn Tuyền, báo Dân Việt: Băn khoăn trường hợp nắng nóng diện rộng như những năm trước có thể lấy điện khí ra chạy thay thuỷ điện trong bối cảnh khí tăng rất cao. Bộ Công Thương có thể cho biết liệu nguồn cung điện cho một số thời điểm có bị khan hiếm hay không?.
Ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực trả lời: Cũng giống như các năm 2024-2025, Bộ Công Thương giám sát việc dự trữ nguyên liệu, đảm bảo sẵn sàng cho các tổ máy điện hoạt động, bao gồm cả thuỷ điện và nhiệt điện, than, khí. Đây là công việc thường xuyên của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công Thương, nhằm đảm bảo cung cấp điện cho nền kinh tế, đáp ứng cả những khi thời tiết nắng nóng, cực đoan. Mặc dù các đơn vị điện lực đã thực hiện những giải pháp chủ động đảm bảo cung ứng điện, nhưng vẫn cần sự hợp tác tuyên truyền tiết kiệm điện của nhà báo đến người dân và doanh nghiệp, để cân bằng cung - cầu.
Phóng viên Dương Hưng, báo Tiền Phong: Chỉ thị 10 và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã mở đường cho điện mặt trời mái nhà gắn với lưu trữ, nhưng thực tế doanh nghiệp và người dân vẫn dè dặt đầu tư. Xin Bộ Công Thương cho biết, trong quá trình sửa đổi Nghị định 58, cơ chế giá điện dư, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đấu nối sẽ được thiết kế theo hướng nào? Bao giờ các chính sách này được ban hành để thị trường có thể thực sự vận hành?
Ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điên lực trả lời: Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh hiện nay có nhiều dự án chậm tiến độ, vướng mắc. Tuy nhiên, đến thời điểm này cũng chưa thể nói mục tiêu 6.000 MW điện gió ngoài khơi có đạt được hay không.
Để tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện, tháng 12/2025, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, theo đó đã tạo ra những cơ chế thông thoáng cho việc điều chỉnh quy hoạch điện, và giao chủ đầu tư cho các dự án điện được nhanh chóng hơn, nhằm đáp ứng được nhu cầu điện từ giờ đến năm 2030. Việc điều chỉnh quy hoạch hay không sẽ được xem xét kỹ.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin thêm: Trong bối cảnh mới, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã giao Cục Điện lực phối hợp với các đơn vị liên quan, rà soát tình hình thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, trong quá trình rà soát, thấy dự án nào chậm tiến độ sẽ tập trung thúc đẩy. Ngoài ra, trong quá trình rà soát, căn cứ vào yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và mục tiêu tăng trưởng, phát triển, nếu cần có sự điều chỉnh về cơ cấu nguồn, tiến độ, thời gian thì sẽ phải tiến hành báo cáo cấp có thẩm quyền theo dõi, quyết định có điều chỉnh không. Cần tiếp tục kiểm tra, giám sát thực hiện cho đúng, quy hoạch đã ban hành thì phải cố triển khai. Để đảm bảo cung - cầu điện, đặc biệt trong mùa cao điểm thì vấn đề sử dụng năng lượng tiế kiệm và hiệu quả cũng rất quan trọng. Theo đó, ngoài những giải pháp đã thực hiện nhằm đảm bảo nguồn cung điện, nếu có sự phối hợp nhịp nhàng giữa cung và cầu trong việc tiết kiệm điện thì chắc chắn năm 2026 sẽ đảm bảo cung ứng tốt điện để phục vụ nhu cầu của nền kinh tế và sinh hoạt của người dân.
Phóng viên Nguyễn Tuyền, báo Dân Việt: Hội Dầu khí đưa thông tin xây dựng Kho dự trữ xăng dầu trong vòng 24-30 tháng và vẫn thiếu cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp trong quá trình xây dựng kho dự trữ xăng dầu. Vậy nếu muốn xây dựng trong trường hợp khẩn cấp thì là bao lâu?
Bà Mai Thu Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp trả lời: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030 tại Quyết định số 305/QĐ-TTg, trong đó có mặt hàng xăng dầu; đồng thời phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 861/QĐ-TTg, định hướng địa điểm, quy mô và công suất hệ thống kho dự trữ. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai, cơ bản đáp ứng yêu cầu về hạ tầng dự trữ xăng dầu theo quy hoạch.
Đối với dầu thô, ngoài hệ thống kho gắn với các nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn, Thủ tướng Chính phủ đã giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chủ trì nghiên cứu, xây dựng dự án kho dự trữ dầu thô (trước mắt tại khu vực Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa), trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt và tổ chức thực hiện theo quy định, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh năng lượng và quốc phòng. Trong quá trình xây dựng dự án đầu tư, PVN cũng sẽ phải tính đến việc đề xuất cơ chế, chính sách vừa đảm bảo hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa nhà nước và doanh nghiệp, cũng như các cơ chế cần thiết về rút gọn, đơn giản hóa thủ tục đầu tư – xây dựng để rút ngắn thời gian thực hiện đáp ứng yêu cầu cấp bách.
Thủ tướng Chính phủ đồng thời giao Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các chiến lược, quy hoạch đã được phê duyệt, bảo đảm phát triển đồng bộ hạ tầng dự trữ năng lượng quốc gia, góp phần ổn định an ninh năng lượng trong dài hạn.

