Israel đối diện với kinh tế suy giảm và chi phí sinh hoạt cao
Kinh tế Israel giảm tốc trong quý 1/2026 do tác động từ cuộc xung đột với Iran trong khi chi phí sinh hoạt tiếp tục leo thang, vượt nhiều nước châu Âu.
Theo số liệu sơ bộ của Cục Thống kê Trung ương Israel, nền kinh tế nước này trong quý 1/2026 giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,8% so với quý 4/2025. Đây là lần suy giảm đầu tiên sau hai quý tăng trưởng liên tiếp, phản ánh tác động kinh tế từ căng thẳng và xung đột với Iran trong những tháng đầu năm nay.
Đáng chú ý, GDP bình quân đầu người theo năm giảm 4,5% so với quý 4/2025. Tiêu dùng cá nhân giảm 4,7%, trong khi chi tiêu bình quân đầu người cho các nhu cầu thiết yếu như thực phẩm, nhà ở, nhiên liệu và điện giảm tới 10,1%.
Tiêu dùng công giảm 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu do chi tiêu cho dân sự giảm mạnh 26,8%, bao gồm cả mức giảm 43,5% trong mua sắm dân dụng - một sự đảo ngược mạnh mẽ so với mức tăng 39,2% được ghi nhận trong quý 4/2025.
Sau cuộc xung đột với Iran hồi tháng 6 năm ngoái, nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng 12,4% trong quý 3/2025 so với cùng kỳ năm trước, bù đắp phần lớn cho sự suy giảm trong quý 2/2025.
Các nhà kinh tế tin rằng kịch bản tương tự có thể xảy ra trong năm 2026, nhưng mức độ và quy mô phụ thuộc vào việc liệu có tiếp tục xảy ra cuộc giao tranh mới với Iran hay không và tốc độ phục hồi của nền kinh tế trở lại trạng thái bình thường.

Với những tác động ảnh hưởng đối với nền kinh tế Israel trong các năm qua, hiện nay chi phí sinh hoạt ở Israel đã đắt đỏ vượt trội so với nhiều quốc gia giàu có nhất châu Âu.
Một nghiên cứu mới được thực hiện bởi Tiến sĩ Sarit Menahem-Carmi - nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Chính sách Kinh tế Aaron và là chuyên gia về chi phí sinh hoạt, cùng với Tiến sĩ Idit Kalisher và David Bitan thuộc Trường Kinh tế Tiomkin ở Đại học Reichman chỉ ra rằng chi phí sinh hoạt tại Israel hiện cao hơn ít nhất 21% so với nhiều quốc gia giàu có ở châu Âu như Áo, Phần Lan, Đan Mạch hay Hà Lan, đặc biệt là đối với nhóm hàng thực phẩm và nhà ở. So với các quốc gia như Hy Lạp, Ý và Tây Ban Nha, mức chênh lệch lên tới 68%.
Các tác giả cũng nêu ra một vấn đề khác. 40% giỏ thực phẩm được đo lường trong nghiên cứu bao gồm các sản phẩm từ sữa và rau quả tươi. Giá các sản phẩm từ sữa đã tăng 47% trong vòng hai mươi năm và giá rau quả tươi đã tăng vọt 86%, mặc dù rau quả tươi được miễn thuế giá trị gia tăng (VAT) ở Israel, không giống như ở các quốc gia khác.
Theo nghiên cứu của Viện Chính sách Kinh tế Aaron, trong 20 năm qua giá nhà ở tại Israel tăng 85%, trong khi giá rau quả tươi tăng 86% và giá các sản phẩm sữa tăng 47%. Đây được xem là những nguyên nhân chính khiến chi phí sinh hoạt tại Israel vượt nhiều quốc gia châu Âu.
Có những lý do nhất định cho tình trạng thực tế trên ở Israel. Ở tất cả các quốc gia châu Âu được khảo sát trong nghiên cứu, đều có các khoản viện trợ và trợ cấp cho nông dân.
Nhưng trong khi ở các quốc gia châu Âu này, viện trợ được trao trực tiếp cho nông dân, thì ở Israel, nó lại được thực hiện bằng cách áp thuế mạnh đối với hàng nhập khẩu và các hạn chế về quy định áp dụng cho hàng nhập khẩu nông sản tươi sống nhằm bảo vệ hệ thực vật và động vật địa phương.
Tiến sĩ Sarit Menahem-Carmi lý giải, các quy định ở Israel rất nghiêm ngặt cũng như quy định rõ loại trái cây hoặc rau quả nào được phép nhập khẩu và từ quốc gia nào. Trong lĩnh vực sữa, ngoài những hạn chế về nhập khẩu, còn có sự hỗ trợ thông qua việc lập kế hoạch cho ngành – phân bổ hạn ngạch sản xuất và bán sữa tươi cho các nhà máy sữa với giá mục tiêu.
Đáng chú ý, trong khi sản lượng nông sản tươi sống trong nước tăng 10% trong hai mươi năm qua, dân số Israel lại tăng tới 52%. Điều đó đã dẫn tới thiếu hụt nguồn cung tại các siêu thị phục vụ người dân Israel.
Trước thực trạng đó, các nhà nghiên cứu khẳng định, việc chuyển sang hỗ trợ trực tiếp là điều cần thiết. Tuy nhiên, cần đạt được thỏa thuận với nông dân để xác định quá trình chuyển đổi nhằm tránh những cú sốc trong ngành cũng gây thiệt hại cho người nông dân.
Nghiên cứu của Viện Chính sách Kinh tế Aaron khuyến nghị hỗ trợ trực tiếp để đảm bảo sản xuất và thu nhập của nông dân, dựa trên diện tích đất canh tác hoặc sản lượng, cũng như bãi bỏ việc lập kế hoạch cho ngành công nghiệp sữa. Nghiên cứu cũng khuyến nghị giảm dần thuế quan và nới lỏng các hạn chế nhập khẩu phát sinh từ các quy định về động thực vật.

