A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đào tạo nhân lực ngành Công Thương đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030

Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030 của Bộ Công Thương đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và đổi mới phương thức làm việc. Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cần gắn với vị trí việc làm, yêu cầu chuyên môn và những vấn đề thực tiễn của ngành.

Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu mới về chất lượng nhân lực

Năm 2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 405/QĐ-BCT về Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong toàn ngành theo hướng đồng bộ, liên thông và hiệu quả. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Một trong những cơ sở quan trọng của kế hoạch là Luật Chuyển đổi số ngày 11/12/2025, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng các chương trình, kế hoạch của Chính phủ và Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Kế hoạch cũng bám sát các định hướng về chuyển đổi số quốc gia, phát triển hạ tầng số và Chính phủ số, trong đó có Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.

Bộ Công Thương chú trọng công tác chuyển đổi số đối với cán bộ, viên chức

Việc triển khai kế hoạch hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Công Thương trong giai đoạn mới, đồng thời phục vụ quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Những yêu cầu này cũng đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có khả năng khai thác công nghệ và dữ liệu trong thực hiện nhiệm vụ.

Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số cần đi liền với yêu cầu thực tế của từng nhóm nhân lực. Nội dung đào tạo không dừng ở việc giới thiệu công cụ, mà cần giúp người học vận dụng kiến thức vào xử lý công việc, phân tích thông tin, nghiên cứu và đề xuất giải pháp.

Đào tạo nhân lực số phải gắn với vị trí việc làm

Trao đổi với Báo Công Thương, TS. Lâm Tuấn Hưng - Trưởng phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, ứng dụng AI và công nghệ số trong đào tạo nên gắn với yêu cầu giải quyết công việc của người học. Giảng viên có thể sử dụng các công cụ này để cập nhật học liệu, xây dựng tình huống thực hành và hướng dẫn phân tích dữ liệu.

Đối với công chức, sử dụng dữ liệu để nhận định tình hình, đánh giá tác động chính sách và phối hợp xử lý các vấn đề thuộc phạm vi quản lý. Người làm công tác tham mưu cần hiểu mối liên hệ giữa sản xuất, thị trường và khả năng cung ứng năng lượng, logistics để đề xuất chính sách phù hợp, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Nội dung bồi dưỡng về liên thông dữ liệu nên gắn với việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, nâng chất lượng phân tích và giảm yêu cầu báo cáo trùng lặp đối với doanh nghiệp.

TS. Lâm Tuấn Hưng - Trưởng Phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Với viên chức, người nghiên cứu, giảng dạy cần được bồi dưỡng phương pháp khai thác dữ liệu và đánh giá độ tin cậy của kết quả phân tích. Trong đào tạo, giảng viên nên yêu cầu người học giải thích cách sử dụng công cụ và căn cứ của các kết luận. Đối với người làm công tác thông tin, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật, yêu cầu đặt ra là chuyển kết quả nghiên cứu thành khuyến nghị có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện của đơn vị sử dụng. Việc trao đổi với doanh nghiệp và theo dõi kết quả áp dụng sẽ cung cấp thêm chất liệu cho nghiên cứu, giảng dạy và điều chỉnh dịch vụ chuyên môn.

Đối với nhân lực làm việc tại các doanh nghiệp, cần chú trọng khả năng lựa chọn công nghệ phù hợp và tổ chức ứng dụng có hiệu quả. Nội dung học nên gắn với mục tiêu cải tiến năng suất, phát triển sản phẩm, dịch vụ và đảm nhận những công việc có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng. Người quản lý cần đánh giá được hiệu quả đầu tư, chuẩn bị nhân lực và điều kiện áp dụng.

Ở bậc sau đại học, hướng nghiên cứu cần tập trung vào bám sát những vấn đề của quá trình tái cơ cấu ngành và đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành Công Thương trong bối cảnh phát triển mới. Có thể tập trung vào điều kiện phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước, hiệu quả đầu tư và sử dụng năng lượng hoặc sự thay đổi phương thức kinh doanh và quan hệ hợp tác giữa các chủ thể trong hệ thống thương mại. Với luận án tiến sĩ, câu hỏi nghiên cứu phải cụ thể, xác định chính xác mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu; lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng vấn đề, nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu phải có đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn.

Để xây dựng những chương trình như vậy, cơ quan quản lý nhà nước, trường, viện và doanh nghiệp cần cùng xác định nhu cầu từ đầu. Cơ quan quản lý nêu những vấn đề phát sinh trong xây dựng và thực thi chính sách; trường, viện phụ trách nội dung chuyên môn và phương pháp nghiên cứu; doanh nghiệp tham gia xác định vấn đề cần giải quyết và chuẩn bị điều kiện áp dụng kết quả.

Từ cách tiếp cận này, đào tạo nhân lực phục vụ chuyển đổi số cần được tổ chức theo hướng sát nhiệm vụ, có nội dung thực hành và chú trọng khả năng vận dụng sau đào tạo. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp sẽ giúp xác định đúng nhu cầu, nâng cao chất lượng chuyên môn và hỗ trợ quá trình chuyển đổi số ngành Công Thương.


Tin liên quan

Tin nổi bật

Liên kết website