Liên kết trường, viện và doanh nghiệp: Hình thành chuỗi đào tạo và nghiên cứu
Tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và cải thiện năng suất ngành Công Thương. Theo TS. Lâm Tuấn Hưng, Trưởng phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, Bộ Công Thương cần đóng vai trò kết nối thông qua các chương trình định kỳ, tạo nền tảng để ba chủ thể phối hợp thường xuyên, thực chất.
Kết nối ba chủ thể, nâng cao chất lượng nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn hoạt động đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng đối với ngành Công Thương trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Tinh thần này được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Theo TS. Lâm Tuấn Hưng, yêu cầu đặt ra là đưa hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển của ngành. Trong đó, thị trường giữ vai trò trung tâm, còn cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp phối hợp với nhau theo những chức năng bổ trợ.

TS. Lâm Tuấn Hưng, Trưởng phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, Bộ Công Thương
Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh và chịu tác động từ những thay đổi của thị trường. Nhu cầu về lao động, công nghệ, năng lực quản trị và phương thức tổ chức sản xuất của doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để các trường xác định nội dung, phương pháp đào tạo. Khi chương trình đào tạo phản ánh sát hơn yêu cầu công việc, sinh viên có điều kiện tiếp cận thực tiễn sớm, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức và thích ứng với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp.
Các viện nghiên cứu có thể hỗ trợ cả cơ sở đào tạo và doanh nghiệp thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn chuyên môn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Kết quả nghiên cứu cung cấp thêm luận cứ cho việc cập nhật chương trình đào tạo, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự phối hợp này cũng tạo điều kiện để những vấn đề phát sinh từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh được chuyển hóa thành các nhiệm vụ nghiên cứu có tính ứng dụng.
Từ cách tiếp cận trên, liên kết trường - viện - doanh nghiệp cần được xem là một quá trình phối hợp liên tục, thay vì những hoạt động hợp tác riêng lẻ. Doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực và các vấn đề thực tiễn; cơ sở đào tạo tổ chức phát triển năng lực cho người học; viện nghiên cứu hỗ trợ hoàn thiện tri thức, phương pháp và giải pháp công nghệ. Kết quả từ hoạt động đào tạo và nghiên cứu tiếp tục được đưa vào thực tiễn doanh nghiệp, qua đó hình thành vòng kết nối giữa nhu cầu thị trường, tri thức và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
TS. Lâm Tuấn Hưng cho rằng đích đến của mô hình này là rút ngắn khoảng cách giữa tri thức và năng suất. Khi người lao động được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp, doanh nghiệp có thêm điều kiện cải thiện hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ và tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.
Đối với các lĩnh vực thuộc ngành Công Thương, từ công nghiệp chế biến, chế tạo đến thương mại, logistics và xuất nhập khẩu, yêu cầu về nhân lực có thể khác nhau. Vì vậy, liên kết giữa ba chủ thể cần xuất phát từ nhu cầu cụ thể của từng lĩnh vực, đồng thời phát huy thế mạnh chuyên môn của mỗi đơn vị. Cách làm này tạo cơ sở để hoạt động đào tạo và nghiên cứu bám sát hơn sự vận động của thị trường, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành.
Bộ Công Thương tạo nhịp kết nối thường xuyên
Đánh giá thực trạng liên kết giữa các chủ thể trong ngành, TS. Lâm Tuấn Hưng cho biết các cơ sở giáo dục và viện nghiên cứu đều có thế mạnh riêng. Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển hợp tác, huy động nguồn lực và chia sẻ kinh nghiệm. Tuy nhiên, mối liên kết giữa các đơn vị vẫn còn phân tán ở một số ngành, lĩnh vực; hoạt động phối hợp với doanh nghiệp chủ yếu diễn ra theo từng chương trình, chu kỳ hoặc giai đoạn nhất định.
Trên thực tế, hợp tác thường được triển khai thông qua những hoạt động riêng lẻ, chẳng hạn một trường tổ chức chương trình với một doanh nghiệp hoặc một viện phối hợp với doanh nghiệp thực hiện một nội dung cụ thể. Những hoạt động này có thể đem lại kết quả thiết thực cho các bên tham gia. Tuy nhiên, để tạo sức lan tỏa rộng hơn, cần mở rộng phạm vi kết nối, tăng cường phối hợp giữa nhiều cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Theo TS. Lâm Tuấn Hưng, điều cần hướng tới là hình thành mạng lưới hợp tác tổng hợp, trong đó có cả liên kết ngang giữa các trường, giữa các viện và giữa những chủ thể này với doanh nghiệp. Khi mạng lưới được tổ chức thường xuyên, các bên có điều kiện chia sẻ thông tin về nhu cầu nhân lực, định hướng nghiên cứu, khả năng tiếp nhận công nghệ và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Cách tiếp cận theo mạng lưới cũng mở ra khả năng sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực hiện có. Các cơ sở đào tạo có thể phối hợp với viện nghiên cứu để cập nhật kiến thức chuyên môn, tiếp cận kết quả nghiên cứu và tổ chức hoạt động thực hành. Viện nghiên cứu có thêm cơ hội tiếp nhận những vấn đề từ doanh nghiệp để xác định hướng nghiên cứu phù hợp. Doanh nghiệp, từ đó, có điều kiện tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng kết quả khoa học, công nghệ.

Các cơ sở đào tạo ngành Công Thương có thể phối hợp với viện nghiên cứu để cập nhật kiến thức chuyên môn, tiếp cận kết quả nghiên cứu và tổ chức hoạt động thực hành
Một điểm được TS. Lâm Tuấn Hưng lưu ý là vai trò của cơ sở giáo dục trong chuỗi liên kết. Nếu chỉ có viện nghiên cứu và doanh nghiệp phối hợp với nhau mà thiếu sự tham gia của trường học, mối liên kết sẽ chưa đầy đủ. Cơ sở giáo dục là chủ thể cung ứng nguồn nhân lực với số lượng lớn, trực tiếp chuẩn bị kiến thức và kỹ năng cho người lao động tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, liên kết trường – viện – doanh nghiệp cần được xây dựng theo hướng có sự tham gia của đầy đủ ba chủ thể ngay từ khâu xác định nhu cầu đến triển khai đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng kết quả. Trong đó, cơ sở đào tạo cần nắm bắt yêu cầu của doanh nghiệp để điều chỉnh nội dung giảng dạy; viện nghiên cứu phát huy năng lực chuyên môn nhằm hỗ trợ đào tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn; doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình xây dựng chương trình và tổ chức hoạt động đào tạo.
Về phía doanh nghiệp, việc tham gia cần được mở rộng từ tiếp nhận sinh viên thực tập sang đóng góp vào quá trình xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo tại các trường. Doanh nghiệp cũng cần phối hợp với các viện nghiên cứu trong xác định, triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ, qua đó đưa những vấn đề thực tiễn vào hoạt động nghiên cứu và tăng khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu.
Khi các bên cùng tham gia xác định mục tiêu và phối hợp triển khai, hoạt động đào tạo có thêm cơ sở để đáp ứng yêu cầu công việc, còn nghiên cứu khoa học có điều kiện gắn chặt hơn với nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là cơ sở để phát huy thế mạnh của từng đơn vị, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo thêm cơ hội chuyển giao tri thức vào thực tiễn.

