Từ sản xuất sạch hơn đến cộng sinh công nghiệp: Hành trình tạo giá trị kép
Từ những dòng nước thải được tái sử dụng đến tro xỉ trở thành nguyên liệu sản xuất, mô hình cộng sinh công nghiệp là hướng đi cho ngành công nghiệp xanh, bền vững.
Bước khởi đầu của hành trình chuyển đổi xanh
Việt Nam đã trải qua gần 3 thập niên tăng trưởng công nghiệp mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng kéo theo áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu cao về phát triển bền vững, doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh bằng chất lượng hay giá thành mà còn bằng cách thức sản xuất có trách nhiệm với môi trường và xã hội. Chính vì vậy, việc triển khai Hiệu quả tài nguyên - Sản xuất sạch hơn (RECP) đang trở thành một yêu cầu tất yếu.
Theo ông Đinh Mạnh Thắng, Chuyên gia tư vấn - Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam: "RECP không đơn thuần là tiết kiệm điện hay tiết kiệm nước. Đây là một phương pháp quản lý tổng thể giúp doanh nghiệp nhận diện toàn bộ dòng nguyên liệu, năng lượng và chất thải trong quá trình sản xuất để giảm lãng phí ngay từ nguồn phát sinh”.

Thực tế đã minh chứng, từ năm 2014 đến năm 2019, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) thực hiện thí điểm chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu sang khu công nghiệp sinh thái tại Ninh Bình, Đà Nẵng và Cần Thơ. Theo đó, 56 doanh nghiệp đã áp dụng hơn 676 giải pháp RECP, giúp tiết kiệm hơn 3 triệu USD/năm nhờ giảm tiêu thụ năng lượng, tài nguyên và nguyên vật liệu, tiết kiệm 22.000 MWh điện năng và hơn 600.000 m3 nước sạch. Các giải pháp này giúp giảm hơn 140 TJ nhiên liệu hóa thạch và gần 3.600 tấn hóa chất và chất thải, cũng như 32 Kt CO2-eq hàng năm, đem lại các lợi ích kinh tế, xã hội và huy động nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân (khoảng 9 triệu đô la Mỹ).
Theo Công ty TNHH Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam, tại các doanh nghiệp đã triển khai RECP, hiệu quả mang lại không chỉ dừng ở yếu tố môi trường. Qua đánh giá tại 23 nhà máy trong giai đoạn 2021-2024, các giải pháp RECP đã giúp tiết kiệm gần 14,7 triệu kWh điện mỗi năm, hơn 1,76 triệu m³ nước, trên 16.390 tấn than và giảm khoảng 50.380 tấn CO₂ phát thải mỗi năm. Tổng giá trị làm lợi đạt hơn 1,18 triệu USD/năm trong khi chi phí đầu tư chỉ khoảng 293.000 USD.
Những con số này cho thấy sản xuất sạch hơn đang trở thành một khoản đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. “Nhưng với các chuyên gia, giá trị lớn nhất của RECP nằm ở việc giúp doanh nghiệp hiểu rõ "chân dung tài nguyên" của chính mình”, ông Thắng nhấn mạnh.
Doanh nghiệp trở thành mắt xích trong vòng tuần hoàn tài nguyên
Ông Đinh Mạnh Thắng chia sẻ, trong một nhà máy dệt nhuộm mà chúng tôi có dịp tìm hiểu, nước thải sau xử lý không còn được xả bỏ hoàn toàn ra môi trường như trước. Sau khi đạt quy chuẩn, dòng nước này tiếp tục đi qua hệ thống lọc UF và RO trước khi quay trở lại dây chuyền sản xuất. Năm 2024, doanh nghiệp đã tái sử dụng được gần 60.000 m³ nước, tương đương 26,7% tổng lượng nước tiêu thụ.
Đây là một ví dụ điển hình của kinh tế tuần hoàn ngay trong phạm vi một doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi mở rộng phạm vi ra toàn khu công nghiệp, những giá trị lớn hơn bắt đầu xuất hiện.
Ông Đinh Mạnh Thắng cho biết, sau khi các doanh nghiệp áp dụng RECP, dữ liệu về nguyên liệu đầu vào, chất thải đầu ra, nước thải hay nhiệt dư được hình thành. Khi tích hợp các dữ liệu này lại với nhau, các cơ hội cộng sinh công nghiệp bắt đầu xuất hiện.
Tại một khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất hóa chất vận hành lò hơi đốt than phát sinh lượng lớn tro xỉ. Trong khi đó, một doanh nghiệp sản xuất gạch không nung và vật liệu xây dựng lại cần nguồn phụ gia khoáng để thay thế một phần nguyên liệu truyền thống.
Thay vì trở thành chất thải phải chôn lấp, tro xỉ được chuyển sang làm nguyên liệu sản xuất. Nhờ đó, doanh nghiệp phát sinh tro xỉ giảm được chi phí xử lý và diện tích bãi chứa, còn doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng giảm chi phí nguyên liệu và cải thiện chất lượng sản phẩm.

Mô hình tương tự cũng đang được thúc đẩy tại nhiều khu công nghiệp sinh thái trên thế giới như Kalundborg (Đan Mạch) – đây được coi là hình mẫu kinh điển của cộng sinh công nghiệp, ở đây hơi nước, tro xỉ, thạch cao và nước làm mát được trao đổi giữa các doanh nghiệp trong nhiều thập kỷ.
Tại Việt Nam, theo các chuyên gia của UNIDO và Dự án Chương trình Khu công nghiệp Sinh thái Toàn cầu (GEIPP), đã có hàng chục cơ hội cộng sinh được nhận diện trong các khu công nghiệp thí điểm, từ tái sử dụng nước sau xử lý, tận dụng phụ phẩm thực phẩm làm thức ăn chăn nuôi, đến thu hồi nhiệt thải và trao đổi nguyên liệu giữa các doanh nghiệp. Nhiều cơ hội trong số đó đang từng bước được triển khai.
Trong đó, đáng chú ý một số mô hình khác cho thấy tiềm năng lớn là tái sử dụng nước thải tập trung. Thay vì xả toàn bộ nước sau xử lý ra môi trường, một số khu công nghiệp đang nghiên cứu cung cấp nguồn nước này cho hoạt động rửa đường, tưới cây, làm mát thiết bị hoặc phục vụ các công đoạn sản xuất không yêu cầu chất lượng nước cao. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí nước sạch mà còn giảm áp lực khai thác nguồn nước ngầm.
Không chỉ là câu chuyện môi trường
Trong bối cảnh doanh nghiệp phải đối mặt với các yêu cầu ngày càng khắt khe về ESG, phát thải carbon, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay các tiêu chuẩn xanh trong chuỗi cung ứng toàn cầu, việc giảm tiêu hao tài nguyên và phát thải đang trở thành một yếu tố cạnh tranh.
“Nếu trước đây doanh nghiệp chỉ quan tâm đến chi phí xử lý chất thải thì nay nhiều doanh nghiệp bắt đầu nhìn chất thải như một nguồn tài nguyên có thể tạo ra giá trị kinh tế”, ông Thắng chia sẻ.

Theo ông Đinh Mạnh Thắng, RECP và cộng sinh công nghiệp có mối quan hệ kế thừa rất rõ ràng. RECP giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nội bộ, còn cộng sinh công nghiệp giúp tối ưu hóa ở quy mô toàn khu công nghiệp. Khi hai công cụ này kết hợp với nhau, mô hình khu công nghiệp sinh thái mới thực sự hình thành.
Việt Nam đã chính thức đưa các yêu cầu về sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp vào Nghị định 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế. Điều đó cho thấy cộng sinh công nghiệp không còn là một sáng kiến mang tính thử nghiệm mà đang trở thành một phần trong chiến lược phát triển công nghiệp xanh của quốc gia.
Trên hành trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, những vòng tuần hoàn tài nguyên đang hình thành trong các khu công nghiệp hôm nay có thể chưa tạo nên những con số thật lớn. Nhưng đó chính là những viên gạch đầu tiên để xây dựng một nền công nghiệp ít phát thải hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn. Bởi trong mô hình khu công nghiệp sinh thái, giá trị không nằm ở lượng chất thải được tạo ra, mà ở khả năng biến chất thải ấy thành nguồn lực cho một chu trình sản xuất mới.

